Giá cà phê trong nước ổn định, thị trường thế giới biến động trái chiều
Giá cà phê hôm nay 5/8 tại khu vực Tây Nguyên nhìn chung ổn định, dao động trong khoảng 96.000 - 96.500 đồng/kg. Thị trường chỉ ghi nhận biến động nhẹ tại Đắk Nông cũ, hiện thuộc tỉnh Lâm Đồng.
Cụ thể, giá cà phê tại Đắk Nông giảm 200 đồng/kg so với hôm qua, xuống còn 96.500 đồng/kg. Trong khi đó, Đắk Lắk và Gia Lai tiếp tục giữ nguyên ở mức 96.500 đồng/kg, cũng là mức giá thu mua cao nhất tại các vùng nguyên liệu được khảo sát. Tại Lâm Đồng, giá cà phê duy trì ở mức 96.000 đồng/kg, thấp nhất trong các vùng nguyên liệu trọng điểm.
Sau chuỗi phiên biến động mạnh vào cuối tháng 7, thị trường cà phê trong nước đang có xu hướng chững lại khi người bán và các doanh nghiệp xuất khẩu tiếp tục theo dõi diễn biến giá trên các sàn giao dịch quốc tế.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê diễn biến trái chiều giữa hai sàn giao dịch lớn.
Chốt phiên giao dịch ngày 4/8, giá cà phê robusta giao kỳ hạn tháng 9/2026 trên sàn London tăng 1,8%, tương đương 68 USD/tấn, lên mức 3.854 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 1,82%, tương đương 69 USD/tấn, đạt 3.853 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê arabica giao kỳ hạn tháng 9/2026 tăng 1,44%, tương đương 4,6 US cent/pound, lên 324,1 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 tăng 1,35%, tương đương 4,1 US cent/pound, đạt 308,8 US cent/pound.
Đà tăng của giá cà phê trong phiên 4/8 được hỗ trợ bởi hoạt động mua bù vị thế bán khống sau những dự báo về khả năng xuất hiện mưa bất ngờ tại Minas Gerais, vùng trồng cà phê lớn nhất của Brazil. Diễn biến thời tiết này có thể tiếp tục làm chậm tiến độ thu hoạch cà phê tại Brazil.
Theo Reuters, nguồn cung cà phê trên thị trường vẫn đang trong tình trạng khan hiếm. Lượng cà phê tồn kho trên các sàn đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 31/1/2024. Tính đến ngày 3/8, lượng cà phê được ICE chứng nhận đạt 260.720 bao, giảm so với 292.810 bao một tuần trước và thấp hơn đáng kể so với mức 760.529 bao ghi nhận cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh nguy cơ mưa trái mùa, thị trường cũng tiếp tục theo dõi diễn biến nhiệt độ tại các vùng sản xuất chính của Brazil trong mùa đông. Khả năng xuất hiện các đợt không khí lạnh trong những tuần tới khiến giới giao dịch duy trì sự thận trọng, trong bối cảnh bất kỳ nguy cơ sương giá nào cũng có thể tác động mạnh tới giá cà phê.
Nguồn cung cà phê chất lượng cao trên thị trường vật chất cũng được ghi nhận ở mức khá hạn chế. Nông dân Brazil tiếp tục bán hàng với tốc độ chậm, chủ yếu thực hiện các giao dịch nhỏ lẻ ở mặt bằng giá hiện tại và kỳ vọng có thêm cơ hội bán với giá tốt hơn trong nửa cuối năm. Việc lượng cà phê sẵn có trên thị trường giảm đã góp phần hỗ trợ giá kỳ hạn phục hồi.
Tuy nhiên, bước sang phiên giao dịch mới nhất, giá cà phê trên hai sàn đã có sự phân hóa. Tại London, robusta giao tháng 9/2026 tăng nhẹ 4 USD/tấn, tương đương 0,11%, lên 3.786 USD/tấn; hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 9 USD/tấn, tương đương 0,24%, lên 3.784 USD/tấn.
Trong khi đó, giá arabica trên sàn New York quay đầu giảm mạnh. Hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 12,6 US cent/pound, tương đương 3,79%, xuống 319,5 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 9,95 US cent/pound, tương đương 3,16%, còn 304,7 US cent/pound.
Theo Reuters, giá arabica trên sàn ICE đã giảm khoảng 3,8% trong phiên giao dịch mới nhất, sau khi tăng tới 6,7% trong tháng 7.
Giá tiêu tiếp tục đi ngang
Thị trường hồ tiêu trong nước sáng 5/8 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Giá tiêu tại các vùng nguyên liệu trọng điểm dao động trong khoảng 138.000 - 141.000 đồng/kg.
Đắk Nông cũ, hiện thuộc tỉnh Lâm Đồng, tiếp tục là địa phương có mức giá thu mua cao nhất cả nước với 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ngay sau với mức 140.000 đồng/kg.
Trong khi đó, giá tiêu tại Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu, hiện thuộc TP Hồ Chí Minh, cùng duy trì ở mức 138.000 đồng/kg.
Nhìn chung, thị trường hồ tiêu trong nước vẫn khá trầm lắng. Người bán và doanh nghiệp xuất khẩu tiếp tục giữ tâm lý thận trọng, chờ thêm tín hiệu từ thị trường quốc tế cũng như nhu cầu mua hàng của các đối tác nhập khẩu.
Trên thị trường xuất khẩu, theo cập nhật mới nhất từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá hồ tiêu chưa ghi nhận biến động đáng kể.
Tiêu đen Indonesia tiếp tục được chào bán ở mức 6.760 USD/tấn. Tiêu đen Brazil ASTA 570 duy trì mức 5.700 USD/tấn, thấp nhất trong nhóm các quốc gia xuất khẩu lớn. Trong khi đó, Malaysia tiếp tục có mức giá chào bán cao nhất, đạt 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá chào bán tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục ổn định trong khoảng 5.970 - 6.050 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia được giao dịch ở mức 9.317 USD/tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam giữ ở mức 8.350 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục duy trì mức 12.200 USD/tấn.
Giá lúa gạo ít biến động, xuất khẩu tăng nhẹ
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ngày 5/8 ít biến động, giao dịch mua bán chậm. Tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, nông dân tiếp tục neo giá cao, trong khi thương lái mua chậm, khiến giao dịch mới chững lại và giá lúa tương đối ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 9.700 - 9.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 ở mức 9.800 - 9.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Đối với các mặt hàng phụ phẩm, giá dao động trong khoảng 7.850 - 8.700 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm ở mức 8.550 - 8.700 đồng/kg, còn cám dao động 7.850 - 8.000 đồng/kg.
Giá lúa tươi cũng không có nhiều thay đổi. Lúa IR 50404 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 ở mức 6.850 - 7.000 đồng/kg; lúa OM 5451 ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa OM 18 ở mức 6.800 - 7.000 đồng/kg và lúa OM 34 ở mức 6.100 - 6.300 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg.
Gạo thơm Jasmine dao động 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài thơm ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; gạo thường dao động 13.500 - 14.500 đồng/kg; gạo Sóc thường ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái ở mức 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg và gạo OM 18 dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định. Giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp 3 tháng khô dao động 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam ghi nhận diễn biến tích cực. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo thơm 100% tấm dao động 362 - 366 USD/tấn, tăng 3 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm được chào bán trong khoảng 500 - 510 USD/tấn, trong khi gạo Jasmine ở mức 546 - 550 USD/tấn.
Trái ngược với diễn biến tăng của gạo Việt Nam, giá gạo xuất khẩu tại một số thị trường lớn giảm nhẹ. Giá gạo 5% tấm của Thái Lan giảm 2 USD/tấn, xuống khoảng 453 - 457 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động 382 - 386 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm cũng giảm 2 USD/tấn, xuống 361 - 365 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm dao động 291 - 295 USD/tấn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
