Giá tiêu hôm nay: Tiếp tục đi ngang
Thị trường hồ tiêu trong nước sáng 26/7 chưa ghi nhận biến động mới. Giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm tiếp tục dao động trong khoảng 137.500 - 141.000 đồng/kg, phản ánh tâm lý giao dịch thận trọng của cả người bán và doanh nghiệp thu mua.
Đắk Nông (thuộc tỉnh Lâm Đồng sau sắp xếp đơn vị hành chính) tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất cả nước với 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ngay sau với 140.000 đồng/kg.
Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), hồ tiêu được thu mua ở mức 138.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và Đồng Nai cùng duy trì mức 137.500 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương khảo sát.
Việc giá tiêu duy trì ổn định nhiều phiên liên tiếp cho thấy thị trường đang chờ thêm tín hiệu từ nhu cầu xuất khẩu cũng như diễn biến nguồn cung toàn cầu trước khi hình thành xu hướng mới.
Trên thị trường quốc tế, theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá hồ tiêu tại các quốc gia xuất khẩu lớn tiếp tục ổn định. Tiêu đen Indonesia được giao dịch ở mức 6.823 USD/tấn; tiêu đen Brazil loại ASTA ở mức 5.700 USD/tấn; còn Malaysia giữ mức cao nhất với 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá chào bán tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l lần lượt duy trì ở mức 5.970 USD/tấn và 6.050 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia được niêm yết ở mức 9.404 USD/tấn; tiêu trắng Việt Nam giữ ở mức 8.250 USD/tấn, trong khi Malaysia ở mức 12.200 USD/tấn.
Giá cà phê hôm nay 26/7: Thế giới phục hồi, giá trong nước vẫn ở vùng thấp
Thị trường cà phê ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá thế giới đồng loạt bật tăng sau nhiều phiên giảm, trong khi giá thu mua trong nước vẫn dao động ở vùng thấp 94.200 - 94.700 đồng/kg.
Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, trên sàn London, hợp đồng cà phê robusta giao tháng 9/2026 tăng 49 USD/tấn, lên 3.757 USD/tấn; hợp đồng tháng 11 tăng lên 3.738 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá arabica giao tháng 9/2026 tăng 4,4 US cent/pound, đạt 313,8 US cent/pound. Hợp đồng tháng 12 cũng tăng lên 298,05 US cent/pound.
Theo Reuters và Barchart, giá arabica phục hồi nhờ hoạt động mua bù vị thế bán của các quỹ đầu tư trước kỳ nghỉ cuối tuần, sau khi có thời điểm giảm xuống mức thấp nhất khoảng hai tuần rưỡi.
Dù vậy, thị trường vẫn chịu sức ép từ nguồn cung dồi dào của Brazil. Tiến độ thu hoạch cà phê tại quốc gia này đã đạt khoảng 64%, dù vẫn thấp hơn mức 77% của cùng kỳ năm ngoái và thấp hơn mức trung bình 5 năm là 70%.
Các dự báo hiện cho thấy sản lượng cà phê Brazil niên vụ mới dao động từ 66,7 - 75,4 triệu bao. Đây tiếp tục là yếu tố có thể gây áp lực lên giá trong trung và dài hạn.
Bên cạnh đó, giới đầu tư cũng theo dõi chính sách thương mại mới của Mỹ. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Phát triển, Công nghiệp, Thương mại và Dịch vụ Brazil Marcio Elias Rosa, cà phê không nằm trong nhóm hàng chịu mức thuế nhập khẩu mới của Mỹ, do đó hoạt động xuất khẩu cà phê Brazil sang thị trường này nhiều khả năng sẽ không bị ảnh hưởng đáng kể.
Giá lúa gạo hôm nay 26/7: Lúa tươi giảm nhẹ, gạo tiếp tục ổn định
Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định. Một số mặt hàng lúa tươi điều chỉnh nhẹ trong khi giá gạo trong nước và xuất khẩu tiếp tục đi ngang.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi IR 50404 giảm 100 đồng/kg, hiện dao động quanh mức 6.100 - 6.200 đồng/kg. Lúa Đài Thơm 8 được thu mua từ 6.850 - 7.000 đồng/kg; lúa OM 5451 ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa OM 18 dao động 6.800 - 7.000 đồng/kg; còn lúa OM 34 giữ mức 6.100 - 6.300 đồng/kg.
Tại các địa phương, giao dịch lúa mới diễn ra chậm. Ở An Giang, hoạt động mua bán có dấu hiệu chững lại và giá lúa tươi giảm nhẹ. Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, giao dịch vẫn yếu, trong khi nhiều thương lái tại Tây Ninh tiếp tục chờ giá giảm thêm mới mua vào. Riêng tại Cần Thơ, nhiều diện tích lúa ở huyện Vĩnh Thạnh đã được đặt cọc từ trước nên giá ít biến động.
Đối với mặt hàng gạo nguyên liệu, giá tiếp tục ổn định. Gạo nguyên liệu IR 504 dao động 9.500 - 9.600 đồng/kg; CL 555 ở mức 9.700 - 9.800 đồng/kg; OM 5451 từ 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg; OM 380 và Sóc Thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Giá phụ phẩm không có nhiều thay đổi. Tấm thơm giữ ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg, còn cám dao động từ 7.900 - 8.050 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo tiếp tục đứng giá. Gạo Nàng Nhen vẫn cao nhất với khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Jasmine từ 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg; gạo thường từ 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường và gạo OM 18 cùng ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái khoảng 20.000 đồng/kg.
Ở phân khúc nếp, thị trường không ghi nhận biến động. Nếp IR 4625 tươi được giao dịch ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg, còn nếp khô ba tháng dao động 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 546 - 550 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 500 - 510 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 353 - 357 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 445 - 449 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 390 - 394 USD/tấn. Trong khi đó, gạo 5% tấm của Ấn Độ được chào bán từ 361 - 365 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 290 - 294 USD/tấn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
