Giá cà phê hôm nay
Giá cà phê trong nước tiếp tục xu hướng phục hồi sau giai đoạn điều chỉnh trước đó, với mức tăng phổ biến từ 400 – 500 đồng/kg. Tại khu vực Tây Nguyên, giá thu mua hiện dao động trong khoảng 91.500 – 92.700 đồng/kg.
Đắk Nông vẫn là địa phương có mức giá cao nhất khi đạt 92.700 đồng/kg, tăng khoảng 400 đồng/kg so với phiên trước. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng tăng lên khoảng 92.500 đồng/kg. Lâm Đồng dù vẫn là khu vực có giá thấp nhất nhưng cũng đã nhích lên mức 91.500 đồng/kg.
Đà tăng của giá cà phê trong nước chủ yếu được hỗ trợ bởi xu hướng đi lên của giá robusta trên thị trường quốc tế, trong bối cảnh nguồn cung thắt chặt và nông dân có xu hướng giữ hàng, hạn chế bán ra khi kỳ vọng giá cao hơn trong thời gian tới.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê diễn biến trái chiều giữa hai dòng sản phẩm chủ lực. Giá robusta trên sàn London tiếp tục tăng mạnh, với hợp đồng giao tháng 5/2026 dao động từ 3.579 đến 3.669 USD/tấn, trong khi hợp đồng tháng 7/2026 đạt khoảng 3.481 – 3.542 USD/tấn. Đây là chuỗi tăng kéo dài nhiều phiên liên tiếp, phản ánh nhu cầu mua ngắn hạn cải thiện rõ rệt.
Trong khi đó, giá arabica trên sàn New York có xu hướng điều chỉnh, với hợp đồng tháng 5/2026 dao động quanh 292,9 – 300,9 US cent/pound và hợp đồng tháng 7/2026 ở mức 287,1 – 294,2 US cent/pound. Áp lực giảm đến từ kỳ vọng nguồn cung dồi dào tại Brazil, quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, cùng với lượng tồn kho trên sàn ICE tăng lên mức cao nhất trong nhiều tháng.
Giá tiêu hôm nay
Giá hồ tiêu trong nước giảm mạnh, lần đầu tiên xuống dưới mốc 140.000 đồng/kg sau nhiều tháng. Tại các vùng trồng trọng điểm, giá tiêu hiện dao động trong khoảng 137.000 – 138.000 đồng/kg, giảm từ 3.000 – 5.000 đồng/kg so với ngày trước đó.
Đắk Lắk là địa phương ghi nhận mức giảm mạnh nhất, đưa giá thu mua xuống còn khoảng 138.000 đồng/kg. Tại Đắk Nông, giá tiêu cũng giảm về mức tương tự. Ở khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu tại Bà Rịa – Vũng Tàu xuống khoảng 137.500 đồng/kg, trong khi Gia Lai và Đồng Nai ghi nhận mức thấp nhất, khoảng 137.000 đồng/kg.
Nguyên nhân chính khiến giá tiêu lao dốc là do nguồn cung từ vụ thu hoạch mới được bổ sung nhanh vào thị trường, trong khi nhu cầu thu mua chưa tăng tương ứng. Bên cạnh đó, chi phí logistics và những bất ổn địa chính trị cũng ảnh hưởng đến tâm lý giao dịch, khiến thị trường trở nên thận trọng hơn.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu có sự biến động nhất định giữa các quốc gia xuất khẩu. Giá tiêu đen Indonesia hiện ở mức khoảng 6.994 USD/tấn, trong khi tiêu đen Brazil giảm xuống còn khoảng 6.050 USD/tấn. Tại Malaysia, giá tiêu đen duy trì ổn định quanh 9.100 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn dao động trong khoảng 6.300 – 6.400 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Indonesia giảm nhẹ xuống khoảng 9.260 USD/tấn, trong khi Việt Nam và Malaysia lần lượt ở mức 9.050 USD/tấn và 12.100 USD/tấn.
Mặc dù giá tiêu đang chịu áp lực trong ngắn hạn, nhiều ý kiến cho rằng thị trường vẫn có triển vọng phục hồi trong dài hạn khi nguồn cung toàn cầu có dấu hiệu suy giảm do ảnh hưởng của thời tiết và chi phí sản xuất tăng cao.
Giá gạo hôm nay
Thị trường lúa gạo trong nước tiếp tục duy trì trạng thái trầm lắng với giao dịch mua bán chậm và giá biến động không đáng kể. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu dao động trong biên độ hẹp.
Cụ thể, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 hôm nay giảm 50 đồng/kg dao động ở mức 8.250 - 8.350 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 7.800 - 7.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.150 - 9.350 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo các loại đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Tương tự với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 5.600 - 5.800 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 5.600 - 5.800đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.200 - 5.300 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.400 - 5.500đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau tùy chủng loại. Gạo 5% tấm được chào bán trong khoảng 400 – 415 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm dao động từ 316 – 320 USD/tấn. Gạo Jasmine tiếp tục giữ mức cao hơn, khoảng 430 – 434 USD/tấn.
So với các đối thủ cạnh tranh, giá gạo Thái Lan thấp hơn nhẹ, với gạo 5% tấm ở mức 381 – 385 USD/tấn. Trong khi đó, Ấn Độ vẫn có lợi thế lớn về giá khi gạo 5% tấm chỉ dao động trong khoảng 351 – 355 USD/tấn.
Diễn biến này cho thấy thị trường gạo toàn cầu vẫn duy trì cạnh tranh cao, trong đó Việt Nam tập trung vào phân khúc chất lượng, còn các quốc gia như Ấn Độ và Thái Lan khai thác lợi thế về chi phí và sản lượng. Trong ngắn hạn, thị trường được dự báo tiếp tục ổn định nhưng khó có sự bứt phá mạnh về giá.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
