Giá tiêu neo cao quanh 144.000 đồng/kg
Thị trường hồ tiêu trong nước sáng nay tiếp tục đi ngang sau nhiều phiên biến động nhẹ. Mặt bằng giá hiện tại vẫn được đánh giá ở mức cao so với cùng kỳ nhiều năm gần đây, chủ yếu nhờ lực đỡ từ nhu cầu xuất khẩu và tâm lý giữ hàng của nông dân.
Theo khảo sát tại các vùng trồng trọng điểm, Đắk Lắk và Đắk Nông tiếp tục là hai địa phương có giá thu mua cao nhất cả nước khi cùng giữ mức 144.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, giá tiêu duy trì quanh mốc 142.500 đồng/kg, trong khi Đồng Nai giao dịch ở mức 142.000 đồng/kg. Gia Lai hiện là địa phương có giá thấp nhất, khoảng 140.000 đồng/kg.
Giới thương mại nhận định nguồn cung từ vụ thu hoạch mới không còn dồi dào như giai đoạn đầu năm, trong khi doanh nghiệp xuất khẩu vẫn duy trì nhu cầu thu mua ổn định. Đây là yếu tố giúp giá tiêu tiếp tục đứng vững ở vùng cao.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu nhìn chung ít biến động. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia hiện ở mức 6.955 USD/tấn. Tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giao dịch quanh 6.100 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia duy trì ở mức 9.300 USD/tấn.
Đối với hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam, giá tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l dao động trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ mức 9.164 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt được chào bán ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
Đáng chú ý, Brazil đang nổi lên mạnh mẽ trên thị trường hồ tiêu toàn cầu. Theo số liệu từ Comexstat, trong tháng 4/2026, nước này đã xuất khẩu 12.738 tấn hồ tiêu, thu về 78,6 triệu USD, tăng hơn 20% về lượng và hơn 30% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
Việt Nam tiếp tục là thị trường nhập khẩu hồ tiêu lớn nhất của Brazil với khoảng 4.810 tấn trong tháng 4, chiếm gần 38% tổng lượng xuất khẩu của nước này. Dù lượng nhập khẩu từ Brazil sang Việt Nam vẫn giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước, nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu phục vụ chế biến và tái xuất của doanh nghiệp trong nước vẫn ở mức cao.
Ngoài Việt Nam, nhiều thị trường khác cũng tăng mạnh nhập khẩu hồ tiêu Brazil như Senegal, Pakistan, Hà Lan và Peru. Trong khi đó, xuất khẩu sang UAE giảm mạnh do ảnh hưởng từ căng thẳng và gián đoạn logistics tại Trung Đông.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, Brazil đã xuất khẩu 38.343 tấn hồ tiêu với kim ngạch khoảng 238,7 triệu USD, tăng 14% về lượng và hơn 16% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Các chuyên gia cho rằng nguồn cung toàn cầu vẫn đang cạnh tranh mạnh, song nhu cầu tiêu thụ phục hồi tại nhiều thị trường lớn có thể tiếp tục hỗ trợ giá tiêu duy trì ở vùng cao trong thời gian tới.
Giá cà phê giảm nhẹ, arabica phục hồi
Trái với hồ tiêu, giá cà phê hôm nay ghi nhận diễn biến phân hóa giữa hai sàn giao dịch lớn. Trên sàn London, robusta quay đầu giảm nhẹ do áp lực chốt lời sau chuỗi tăng mạnh trước đó. Trong khi đó, arabica trên sàn New York phục hồi trở lại nhờ lực mua bắt đáy.
Tại thị trường nội địa, giá cà phê khu vực Tây Nguyên đồng loạt giảm 400 - 500 đồng/kg nhưng vẫn duy trì trên ngưỡng 86.000 đồng/kg. Đắk Nông tiếp tục là địa phương có giá cao nhất cả nước với khoảng 87.300 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng ở mức 87.100 đồng/kg, còn Lâm Đồng thấp nhất với 86.500 đồng/kg.
Theo giới thương mại, giá cà phê trong nước vẫn được hỗ trợ bởi nguồn cung chưa dồi dào và lượng hàng tồn kho thấp. Nhiều nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu hiện vẫn giữ hàng, chưa đẩy mạnh bán ra thị trường.
Trên sàn London, hợp đồng robusta giao tháng 7/2026 giảm 18 USD/tấn xuống còn 3.414 USD/tấn, trong khi hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm còn 3.302 USD/tấn.
Ở chiều ngược lại, giá arabica trên sàn New York phục hồi sau hai phiên giảm liên tiếp. Hợp đồng giao tháng 7/2026 tăng lên mức 274,15 US cent/pound, còn hợp đồng giao tháng 9/2026 đạt 266,3 US cent/pound.
Theo Reuters, arabica phục hồi sau khi rơi xuống vùng giá thấp nhất trong khoảng một năm rưỡi. Thị trường kỳ vọng vụ mùa bội thu tại Brazil sẽ góp phần giảm áp lực thiếu hụt nguồn cung cà phê toàn cầu.
Tuy nhiên, đồng real Brazil tiếp tục neo ở vùng cao nhất trong hơn hai năm so với USD khiến nhiều nhà xuất khẩu nước này hạn chế bán ra. Đây tiếp tục là yếu tố hỗ trợ mặt bằng giá cà phê thế giới.
Ngoài ra, lượng tồn kho trên các sàn ICE tiếp tục giảm xuống mức thấp cũng đang tạo lực đỡ cho thị trường. Tồn kho robusta hiện ở mức thấp nhất khoảng 16,5 tháng, còn tồn kho arabica xuống mức thấp nhất khoảng 2,5 tháng.
Bên cạnh Brazil và Việt Nam, Honduras cũng được dự báo tăng mạnh sản lượng cà phê trong niên vụ 2025 - 2026 lên khoảng 5,53 triệu bao, tăng hơn 6% so với niên vụ trước nhờ thời tiết thuận lợi và diện tích canh tác mở rộng. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn đối mặt với nguy cơ bệnh gỉ sắt lá cà phê gia tăng.
Giá lúa gạo biến động nhẹ, giao dịch chậm
Thị trường lúa gạo hôm nay tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận giao dịch mua bán tiếp tục chậm. Một số mặt hàng lúa tươi tăng nhẹ 100 đồng/kg, trong khi giá gạo nhìn chung duy trì ổn định do nguồn cung không còn dồi dào.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hiện dao động 8.600 - 8.700 đồng/kg; gạo CL 555 ở mức 9.100 - 9.200 đồng/kg; gạo OM 18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 khoảng 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo ổn định. Gạo Nàng Nhen hiện có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg, gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg, còn gạo thơm Jasmine dao động 13.000 - 14.000 đồng/kg.
Ở phân khúc nếp, giá tiếp tục ổn định. Nếp IR 4625 tươi dao động 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp khô ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, lúa OM và Đài Thơm 8 tươi cùng tăng nhẹ 100 đồng/kg lên khoảng 6.200 - 6.300 đồng/kg. Lúa OM 5451 dao động 5.600 - 5.700 đồng/kg, còn lúa IR 50404 ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg.
Tại nhiều địa phương như Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cà Mau, nguồn lúa tươi hiện còn khá ít, giao dịch diễn ra chậm nhưng giá vẫn giữ ổn định.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm dao động 510 - 520 USD/tấn.
Trong khi đó, giá gạo 5% tấm của Thái Lan hiện dao động 396 - 400 USD/tấn, còn gạo 5% tấm của Ấn Độ ở mức 345 - 349 USD/tấn.
![]() | Xuất khẩu nông sản tăng mạnh nhưng áp lực vẫn bủa vâyXuất khẩu nông lâm thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong 4 tháng đầu năm 2026 trở thành điểm sáng của nền kinh tế Tuy nhiên phía sau những con số tăng trưởng là hàng loạt áp lực về logistics rào cản kỹ thuật chi phí sản xuất và biến động thị trường quốc tế đang đặt ra thách thức lớn đối với mục tiêu xuất khẩu hơn 74 tỷ USD của ngành nông nghiệp năm nay |
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn

