Chuyển tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp

Nông nghiệp duy trì được tăng trưởng và phát triển khá toàn diện, chất lượng tăng trưởng ngày càng được cải thiện hơn, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực trong mọi tình huống và an toàn thực phẩm.

Chuyển tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp
Thu hoạch lúa ở Hợp tác xã nông nghiệp Hương Trang (huyện Mộc Hóa, Long An). Ảnh: Bùi Giang- TTXVN

Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược) được Phó Thủ tướng Lê Văn Thành ký tại Quyết định số 150/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 tiếp tục khẳng định nông nghiệp là nền tảng bền vững của quốc gia.

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan, Chiến lược đã xác định chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, sản xuất sản phẩm có giá trị cao, đa dạng theo chuỗi giá trị phù hợp với yêu cầu của thị trường.

Chiến lược đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm thủy sản đạt bình quân từ 2,5-3%/năm, tốc độ tăng năng suất lao động nông lâm thủy sản đạt bình quân từ 5,5-6%/năm; mở rộng và phát triển thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu. Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt bình quân từ 5-6%/năm…

Đến năm 2050, Việt Nam sẽ trở thành một trong những nước có nền nông nghiệp hàng đầu thế giới  với ngành công nghiệp chế biến nông sản hiện đại, hiệu quả, thân thiện với môi trường. Nông thôn Việt Nam không còn hộ nghèo và trở thành “nơi đáng sống” văn minh, xanh, đẹp.

Với mục tiêu trên, theo Bộ trưởng Lê Minh Hoan, ngành nông nghiệp sẽ phải đổi mới tư duy sản xuất. Đó là chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, tập trung vào nâng cao giá trị, hiệu quả. Chuyển từ phát triển đơn ngành sang tích hợp đa ngành, từ “đơn giá trị” sang “tích hợp đa giá trị”.

Hướng nông nghiệp xanh, nông nghiệp sinh thái bằng việc áp dụng đồng bộ các quy trình, công nghệ; sử dụng hợp lý, tiết kiệm vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không gây ảnh hưởng tới môi trường, sức khỏe con người.

Ngành nông nghiệp sẽ hoàn chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với lợi thế cạnh tranh và yêu cầu thị trường.

Theo đó, ngành nông nghiệp tiếp tục cơ cấu lại theo 3 trục sản phẩm: quốc gia, cấp tỉnh và địa phương và theo lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp; cùng với đó là tăng cường chế biến, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới tổ chức thể chế của hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp, hiệp hội, hội.

Ngành nông nghiệp  sẽ chuyển mạnh từ xây dựng các chuỗi cung ứng nông sản sang phát triển các chuỗi giá trị ngành hàng. Ưu tiên hoàn chỉnh chuỗi giá trị cho các ngành hàng chủ lực của các địa phương.

Từ các vùng chuyên canh hàng hóa quy mô lớn của các nông sản chủ lực phát triển hợp tác xã, giảm các khâu trung gian, tăng cường liên kết với các doanh nghiệp chế biến, thương mại lớn để hình thành chuỗi giá trị. Lấy chuỗi giá trị của các nông sản để kết nối các vùng chuyên canh nhỏ, hình thành không gian kinh tế chung giữa các địa phương tương đồng về điều kiện, vượt qua địa giới hành chính.

Cùng với nông nghiệp, ngành chú trọng phát triển kinh tế nông thôn, chuyển cơ cấu lao động theo hướng phi nông nghiệp để giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập. Đó là đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ ở khu vực nông thôn, có các chính sách thu hút đầu tư để khuyến khích các doanh nghiệp công nghiệp, dịch vụ đầu tư vào nông thôn, nhất là các ngành sử dụng nhiều lao động, để từng bước giảm tình trạng di cư lao động từ nông thôn ra, đảm bảo “ly nông bất ly hương”. Phát triển mạnh kinh tế dịch vụ ở khu vực nông thôn từ loại hình, quy mô... để tạo việc làm, thu hút lực lượng lao động không tham gia sản xuất nông nghiệp.

Nâng cao hiệu quả, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, từng bước hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, tạo điều kiện cho nông dân phát triển kinh tế, trang trại và kinh tế hợp tác. Có chính sách hỗ trợ để nông dân tại các vùng chuyên canh tham gia các chương trình đào tạo có chứng chỉ để sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và các yêu cầu mới của thị trường.

Chuyển tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản An Giang phục hồi sản xuất theo mô hình “4 xanh”. Ảnh: Công Mạo - TTXVN

Về phát triển thị trường, đảm bảo đầu ra cho nông sản thì thị trường trong nước sẽ cần đổi mới hệ thống phân phối nông sản; kết nối hệ thống chế biến, phân phối và bán lẻ hiện đại, truyền thống với các chuỗi cung ứng nông sản và gắn với các vùng chuyên canh. Hình thành hệ thống chợ đầu mối gắn với chuỗi logistics ở các vùng trọng điểm sản xuất nông sản.

Với thị trường xuất khẩu, ngành chủ động phát huy cơ hội của các hiệp định thương mại tự do để giữ ổn định các thị trường truyền thống, mở rộng thị trường mới, tránh lệ thuộc vào một vài thị trường.

Ông Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn cho rằng, các chính sách về sử dụng đất đai sẽ cần được sửa đổi linh hoạt, phát triển thị trường giao dịch, thúc đẩy tập trung đất đai. Về tín dụng, phát triển tín dụng chính thức cho hộ doanh nghiệp, hợp tác xã; tín dụng theo chuỗi.

Hạ tầng sẽ được đầu tư cơ bản cho vùng sâu vùng xa. Điển hình như việc phát triển hạ tầng thủy lợi phải đảm bảo đa mục tiêu, cho thủy sản, lâm nghiệp. Hạ tầng thương mại như: xây dựng hệ thống chợ, trung tâm đầu mối; hạ tầng logistics: cầu cảng, trung tâm kết nối vùng, giao thông kết nối vùng chuyên canh.
Ngành cũng sẽ hình thành hệ thống các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành hàng chiến lược, liên kết với nông dân thông qua kinh tế hợp tác.

Phát triển hệ sinh thái ngành hàng; trong đó doanh nghiệp đầu tầu đảm bảo vai trò hạt nhân; phát triển hợp tác xã với chuỗi giá trị; đồng thời đổi mới, nâng cao vai trò của hội, hiệp hội…, ông Trần Công Thắng cho hay.

Theo ông Trần Công Thắng, trong giai đoạn mới nếu muốn nâng cao quy mô sản xuất, nâng cao vị thế của người nông dân, hiệu quả thì bắt buộc phải hợp tác. Với nông dân thì kinh tế hợp tác, tổ hợp tác, các câu lạc bộ… là mô hình tốt đã được khẳng định thì cần thúc đẩy phát triển hơn. Việc phát triển theo chuỗi liên kết không chỉ với ngành hàng chủ lực mà kể cả ngành hàng nhỏ có lợi thế của địa phương để chuyển theo hướng từ sản lượng sang chất lượng, hiệu quả cao hơn.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan nhấn mạnh, quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong nông nghiệp đặt ra yêu cầu nhất định về khả năng tiếp cận, trình độ ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Ngành sẽ phải tận dụng tối đa nguồn lực hiện hữu để mang đến những giá trị mới bằng việc phát triển kinh tế tuần hoàn. Kinh tế tuần hoàn cũng sẽ hướng đến một nền nông nghiệp xanh, nông nghiệp sinh thái./.

Tin liên quan
Tin khác
Giao dịch logistics “lai” đặt ra yêu cầu mới về quản trị dữ liệu và chứng từ
Giao dịch logistics “lai” đặt ra yêu cầu mới về quản trị dữ liệu và chứng từ

Chuyển đổi số đang thúc đẩy ngành logistics nhưng mô hình kết hợp giữa chứng từ giấy và giao dịch điện tử cũng làm gia tăng rủi ro pháp lý. Doanh nghiệp cần kiểm soát dữ liệu, xác thực chứng từ và xác lập rõ thứ tự ưu tiên để hạn chế tranh chấp.

TP Hồ Chí Minh kỳ vọng tạo cú hích mới từ mô hình outlet
TP Hồ Chí Minh kỳ vọng tạo cú hích mới từ mô hình outlet

TP Hồ Chí Minh đang nghiên cứu phát triển các mô hình outlet quy mô lớn, kết hợp mua sắm, dịch vụ, giải trí và du lịch, nhằm tăng sức hút điểm đến và nâng mức chi tiêu của du khách.

FDI vào Việt Nam: Hạ tầng tốt chưa đủ, tốc độ triển khai mới là lợi thế
FDI vào Việt Nam: Hạ tầng tốt chưa đủ, tốc độ triển khai mới là lợi thế

Dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh khi sản xuất, hạ tầng và vị trí trong chuỗi cung ứng khu vực ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế, lợi thế về chi phí, thị trường và vị trí địa lý đang phải đi cùng một yêu cầu ngày càng rõ: rút ngắn khoảng cách từ quyết định đầu tư đến khi dự án có thể vận hành thực tế.

Dệt may tìm dư địa tăng trưởng từ chuyển đổi xanh
Dệt may tìm dư địa tăng trưởng từ chuyển đổi xanh

Xuất khẩu dệt may 7 tháng đầu năm 2026 đạt 27,02 tỷ USD, tăng 2,67% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, hàng may mặc chỉ tăng 0,70%, thấp hơn nhiều so với xơ sợi, vải và phụ liệu. Diễn biến này cho thấy doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh bằng giá, chất lượng và tiến độ giao hàng, mà còn cần kiểm soát tốt nguyên liệu, năng lượng, phát thải và truy xuất nguồn gốc.

Savills chỉ ra lợi thế cạnh tranh tiếp theo của Việt Nam trong cuộc đua hút vốn quốc tế
Savills chỉ ra lợi thế cạnh tranh tiếp theo của Việt Nam trong cuộc đua hút vốn quốc tế

Theo Savills Việt Nam, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn quốc tế ngày càng lớn, lợi thế của Việt Nam không chỉ nằm ở nền tảng sản xuất hay vị thế trong chuỗi cung ứng khu vực. Hạ tầng ngày càng hoàn thiện, môi trường pháp lý minh bạch và khả năng đưa dự án vào vận hành hiệu quả đang trở thành những yếu tố quan trọng để chuyển hóa tăng trưởng thành dòng vốn đầu tư dài hạn.

An ninh năng lượng kích hoạt chu kỳ đầu tư mới ngành dầu khí
An ninh năng lượng kích hoạt chu kỳ đầu tư mới ngành dầu khí

Giá dầu neo ở mức cao, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng gia tăng cùng loạt dự án khai thác, khí - LNG và lọc hóa dầu đang mở ra chu kỳ đầu tư mới cho ngành dầu khí Việt Nam. Dòng vốn được kỳ vọng lan tỏa trên toàn chuỗi, từ thượng nguồn đến hạ nguồn, trong bối cảnh nguồn cung trong nước chịu áp lực suy giảm và nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng.

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026: Thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế
Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026: Thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026 đề xuất chuyển mạnh sang cơ chế giá thị trường, đồng thời siết điều kiện đối với thương nhân đầu mối và tinh gọn hệ thống phân phối.

Cắt giảm thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phải gắn với hậu kiểm
Cắt giảm thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phải gắn với hậu kiểm

Việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đang được đặt ra nhằm giảm chi phí tuân thủ, tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi các lớp tiền kiểm được thu hẹp, yêu cầu về hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc và chế tài xử lý phải được nâng lên để tránh tạo khoảng trống quản lý, đặc biệt với những sản phẩm tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc