Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 1,6 tỷ USD trong 2 tháng đầu năm

2 tháng đầu năm 2023, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 1,6 tỷ USD, giảm 34,8% so với cùng kỳ năm 2022. Nhật Bản, Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu chủ yếu của viên nén Việt Nam.

Theo Cục Xuất nhập khẩu (XNK) - Bộ Công Thương, ước tính tháng 2/2023, trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 806 triệu USD, giảm 0,7% so với tháng 1/2023 và giảm 10,9% so với tháng 2/2022. Trong đó, trị giá xuất khẩu sản phẩm gỗ ước đạt 490 triệu USD, giảm 0,3% so với tháng 1/2023 và giảm 29,7% so với tháng 2/2022.

Hoạt động xuất khẩu đã trở lại bình thường sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài, nhưng trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 2/2023 vẫn giảm là do tình trạng thiếu đơn hàng từ trước đó.

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 16 tỷ USD trong 2 tháng đầu năm
Trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ giảm do tình trạng thiếu đơn hàng. (Ảnh minh họa - Nguồn: IT).

Tính chung 2 tháng đầu năm 2023, trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 1,6 tỷ USD, giảm 34,8% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, trị giá xuất khẩu sản phẩm gỗ ước đạt 982 triệu USD, giảm 47,5% so với cùng kỳ năm 2022.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhận định, tình trạng thiếu đơn hàng và kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài trong tháng 1/2023 là yếu tố chính khiến trị giá xuất khẩu các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ giảm mạnh trong tháng 1/2023.

Trong đó, đồ nội thất bằng gỗ là mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất và có tốc độ giảm mạnh. Dẫn đầu về trị giá xuất khẩu trong cơ cấu mặt hàng đồ nội thất bằng gỗ là mặt hàng ghế khung gỗ đạt 164 triệu USD, giảm 52,9% so với tháng 01/2022; tiếp theo là mặt hàng đồ nội thất phòng khách và phòng ăn đạt 119,3 triệu USD, giảm 63,1%; đồ nội thất phòng ngủ đạt 79,5 triệu USD, giảm 64,7%...

Đáng chú ý, trong cơ cấu mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu trong tháng 1/2023, chỉ có mặt hàng viên nén gỗ có trị giá tăng và mặt hàng dăm gỗ có trị giá giảm nhẹ so với tháng 1/2022. Tình trạng khan hiếm năng lượng ở nhiều nước trên thế giới gia tăng là yếu tố chính thúc đẩy nhu cầu dăm gỗ và viên nén gỗ.

Lượng xuất khẩu viên nén tăng mạnh trong thời gian qua.

Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, trong năm 2022 lượng xuất khẩu đạt trên 4,88 triệu tấn, tăng 39,35% so với cùng kỳ 2021. Giá trị xuất khẩu viên nén của năm 2022 đạt trên 787 triệu USD, tăng hơn 90% so với cùng kỳ 2021.

Đáng chú ý, giá viên nén xuất khẩu trung bình năm 2022 ở mức cao kỷ lục so trong 10 năm trở lại đây và đạt mức kỷ lục hơn 189 USD/tấn vào tháng 12/2022.

Hầu như toàn bộ viên nén của Việt Nam được xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc. Năm 2022 lượng viên nén xuất khẩu sang hai thị trường này chiếm lần lượt 97,5% tổng lượng và 96,7% tổng kim ngạch viên nén xuất khẩu của Việt Nam trong năm.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, một số yếu tố có thể tác động đến tình hình xuất khẩu và sản xuất viên nén trong năm 2023.

Hiện nay, nguồn cung dồi dào, lượng hàng tồn tại các thị trường đặc biệt tại Nhật Bản và Hàn Quốc cao đang tác động trực tiếp tới mức giá xuất khẩu. Mức giá xuất khẩu viên nén từ Việt Nam đang có xu hướng giảm.

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 16 tỷ USD trong 2 tháng đầu năm
Xuất khẩu viên nén từ Việt Nam đang có xu hướng giảm. (Ảnh minh họa - Nguồn: IT).

Thông tin đánh giá từ một số doanh nghiệp xuất khẩu cho thấy trong thời gian tới mức giá xuất khẩu vào Hàn Quốc có thể giảm xuống còn 11-120 USD/tấn và vào Nhật Bản còn 150-160 USD/tấn. Đây sẽ là mức giá giảm rất mạnh so với mức giá xuất khẩu hiện tại.

Hàng tồn kho lớn, nguồn cung dồi dào cũng cho phép các doanh nghiệp đặc biệt tại Nhật Bản siết lại các tiêu chuẩn về chất lượng và bền vững. Năm 2022, khi lượng cung vào các thị trường này thiếu hụt, nhiều nhà nhập khẩu tại đây dưới sức ép về nguồn cung không có sự lựa chọn nào khác mà phải chấp nhận sản phẩm có chất lượng thấp hơn so với kỳ vọng.

Tuy nhiên tại thời điểm hiện tại, cơ hội này cho các nhà sản xuất và thương mại của Việt Nam không còn nữa. Một số doanh nghiệp Nhật Bản đang yêu cầu các nhà cung cấp từ Việt Nam chuẩn hóa về tiêu chuẩn chất lượng, bao gồm cả các sản phẩm bền vững.

Bên cạnh đó, thị trường xuất khẩu mở rộng vào nửa đầu của năm 2022 tạo ra làn sóng đầu tư vào sản xuất mặt hàng này tại Việt Nam, đặc biệt là từ nửa cuối của năm 2022. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu đã trải qua giai đoạn "sốt" với mức giá xuất khẩu đang giảm nhanh và điều này có thể sẽ gây ra tác động tiêu cực rất lớn đặc biệt đối với các nhà máy mới hoặc đang được xây dựng.

Theo thống kê không chính thức từ một số doanh nghiệp trong ngành, năm 2022 đã có khoảng 70 nhà máy sản xuất viên nén được được xây dựng. Đến nay, một số nhà máy đã hoàn thành; nhiều nhà máy vẫn đang trong quá trình xây dựng. Trong số 70 nhà máy này có khoảng 20 nhà máy lớn, sử dụng công nghệ EU; 50 nhà máy sử dụng công nghệ Việt Nam và Trung Quốc.

Theo đánh giá của một số doanh nghiệp, năm 2023 có thể là một năm thanh lọc đối với các doanh nghiệp trong ngành. Ngành viên nén sẽ không còn là một ngành hấp dẫn như trong năm 2022.

Thanh Phong

Tin liên quan
Tin khác
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ

Từ siêu thị, trung tâm thương mại đến chợ truyền thống và các hộ kinh doanh nhỏ, thanh toán không dùng tiền mặt đang từng bước trở thành phương thức giao dịch quen thuộc tại TP Hồ Chí Minh. Cùng với sự chuyển dịch này, các cơ quan quản lý đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy thanh toán số phát triển rộng khắp.

Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị
Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang có thêm cơ hội khi các chuỗi cung ứng toàn cầu mở rộng hiện diện trong nước. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi không chỉ nằm ở khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng mà còn ở mức độ doanh nghiệp Việt có thể đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ công nghệ, vật liệu đến thiết kế và phát triển sản phẩm.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc