Cập nhật 3 kịch bản lạm phát năm 2026
Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, chiều 26/6, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chủ trì cuộc họp của Ban Chỉ đạo điều hành giá về kết quả công tác quản lý, điều hành giá quý II và 6 tháng đầu năm 2026; định hướng công tác điều hành giá 6 tháng cuối năm 2026.
Trình bày tóm tắt kết quả quản lý, điều hành giá thời gian qua, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát nhưng áp lực đối với mục tiêu cả năm còn lớn. Cụ thể, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng trong khoảng 0,84% đến 1,23% trong các tháng 2, tháng 3, tháng 4 so với tháng trước do tác động của yếu tố mùa vụ và giá xăng dầu, gas, vật liệu xây dựng tăng theo giá thế giới, nhưng đã hạ nhiệt vào cuối quý II/2026 nhờ nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào.
Thứ trưởng Trần Quốc Phương cho biết, trong 6 tháng cuối năm 2026, mặt bằng giá trong nước dự báo tiếp tục chịu áp lực từ cả yếu tố bên ngoài và trong nước. Trên thế giới, xung đột địa chính trị, đặc biệt tại Trung Đông nếu tiếp tục diễn biến phức tạp có thể làm gia tăng giá năng lượng, chi phí vận tải và nguyên vật liệu nhập khẩu, qua đó tạo áp lực lạm phát nhập khẩu.
Trong nước, việc đẩy mạnh đầu tư công, nhu cầu vật liệu xây dựng tăng cao cùng với mở rộng tín dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có thể làm gia tăng tổng cầu và chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, việc tiếp tục thực hiện lộ trình tính đúng, tính đủ đối với một số dịch vụ do Nhà nước quản lý như y tế, giáo dục; tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và điều chỉnh tiền lương cơ sở từ ngày 1/7/2026 cũng là những yếu tố gây sức ép lên mặt bằng giá nửa cuối năm 2026.
Tuy nhiên, áp lực lạm phát được hỗ trợ giảm bớt nhờ việc tiếp tục thực hiện các chính sách giảm thuế, phí, lệ phí; chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt; nguồn cung lương thực, thực phẩm trong nước cơ bản ổn định và đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng. Cùng với đó, việc Chính phủ kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế sẽ góp phần ổn định kỳ vọng thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều hành giá và kiểm soát lạm phát trong những tháng cuối năm 2026.
Theo Thứ trưởng Trần Quốc Phương, Bộ Tài chính cập nhật 3 kịch bản lạm phát năm 2026 tăng trong khoảng 4,5%; 5% và 5,5%. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dự báo lạm phát bình quân năm 2026 tăng trong khoảng 4,8%-5,5% (nằm trong miền 5% ± 0,5). Các tổ chức quốc tế dự báo lạm phát bình quân của Việt Nam tăng khoảng 3,8-5,2%.
Tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo sớm các yếu tố gây áp lực lạm phát
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đánh giá, 6 tháng đầu năm, thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước cơ bản duy trì cân bằng cung-cầu, nguồn cung các mặt hàng thiết yếu được bảo đảm. Tuy nhiên, xung đột tại Trung Đông đã đẩy giá năng lượng, chi phí vận tải và nguyên vật liệu đầu vào tăng, cùng với áp lực tỉ giá và sự phục hồi của tiêu dùng, đầu tư đã tạo sức ép đáng kể lên lạm phát.
Nhìn chung, trong 6 tháng vừa qua, lạm phát đang kiểm soát được theo mục tiêu của cả năm. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan, dư địa điều hành lạm phát còn rất nhỏ cho nên chúng ta phải rất nỗ lực.
Để hoàn thành đồng thời mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát lạm phát, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm.
Trong đó, tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo sớm các yếu tố gây áp lực lạm phát, chủ động theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới, chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn, giá năng lượng, giá lương thực, tỉ giá quốc tế, chính sách thương mại và thuế quan của các đối tác lớn, các diễn biến địa chính trị và nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu để chúng ta kịp thời đánh giá tác động và xây dựng các kịch bản điều hành giá cho phù hợp.
Tiếp tục điều hành chính sách tài khóa theo hướng chặt chẽ, hiệu quả, thực hiện tiết kiệm triệt để chi thường xuyên ngân sách nhà nước, ưu tiên nguồn lực cho đầu tư phát triển và các nhiệm vụ an sinh xã hội. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu kỳ, đồng thời điều tiết nhịp độ giải ngân hợp lý giữa các tháng, các quý, tránh tình trạng dồn khối lượng giải ngân vào cuối năm gây áp lực lên thị trường vật liệu xây dựng, lao động và mặt bằng giá cả.
Điều hành chính sách tiền tệ chủ động linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, theo dõi sát diễn biến lạm phát cơ bản, cung tiền, tín dụng, tỉ giá và lãi suất. Kiểm soát hợp lý tăng trưởng tín dụng, điều hành tỉ giá linh hoạt nhằm hạn chế tác động của lạm phát nhập khẩu, góp phần ổn định thị trường tài chính tiền tệ và kiểm soát kỳ vọng lạm phát.
Điều hành giá các hàng hóa dịch vụ do Nhà nước quản lý theo lộ trình phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu thị trường hóa giá cả với việc kiểm soát lạm phát và hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh.
Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, cần rà soát lại lộ trình và cơ cấu giá. Những dịch vụ thuộc y tế, giáo dục đã dự kiến tăng giá cần được đánh giá kỹ để xác định nội dung nào bắt buộc phải thực hiện, nội dung nào có thể lùi thời điểm điều chỉnh. Đồng thời, cần rà soát lại phạm vi và mức độ điều chỉnh giá. Từ nay đến cuối năm, phải thường xuyên theo dõi dư địa kiểm soát lạm phát. Nếu đến hết quý III vẫn còn dư địa thì có thể triển khai theo kế hoạch; ngược lại, nếu dư địa không còn nhiều thì phải đánh giá lại cả phạm vi và mức tăng cho phù hợp.
Về nhiệm vụ cụ thể, Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì theo dõi sát diễn biến CPI và tổng hợp số liệu của các bộ, ngành về diễn biến giá các mặt hàng thiết yếu, thường xuyên cập nhật các kịch bản lạm phát theo từng quý và cả năm, chủ động tham mưu cho Ban Chỉ đạo điều hành giá và Chính phủ các giải pháp điều hành phù hợp với diễn biến kinh tế trong nước và quốc tế. Tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí còn phù hợp nhằm giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp và hỗ trợ đời sống người dân.
Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chủ động linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, theo dõi sát diễn biến tỉ giá, lãi suất, tín dụng, cung tiền và dòng vốn quốc tế, chủ động các giải pháp hạn chế tác động của lạm phát nhập khẩu, điều tiết tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, tập trung vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, chế tạo và các động lực tăng trưởng mới, tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động thị trường ngoại hối, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm giữ ngoại tệ gây bất ổn thị trường.
Bộ Công Thương chủ trì theo dõi sát diễn biến giá dầu thô, xăng dầu thành phẩm, khí hóa lỏng, than và các loại năng lượng trên thị trường thế giới, điều hành giá xăng dầu trong nước theo quy định, bám sát diễn biến giá thế giới và bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì nguồn cung.
Chỉ đạo các doanh nghiệp đầu mối bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, không để xảy ra tình trạng đứt gãy nguồn cung hoặc găm hàng chờ tăng giá. Chủ trì điều hòa cung cầu hàng hóa thiết yếu trên phạm vi cả nước, bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng chiến lược trong mọi tình huống.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo dõi sát diễn biến sản xuất, cung cầu và giá cả các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu như là lúa gạo, thịt lợn, gia cầm, thủy sản, rau quả. Chủ động các phương án bảo đảm nguồn cung thực phẩm trong mọi tình huống và không để xảy ra thiếu hụt nguồn cung cục bộ gây biến động giá bất thường.
Bộ Xây dựng chủ trì theo dõi đánh giá diễn biến giá vật liệu xây dựng, giá nhà ở, bất động sản và chi phí xây dựng, chủ động đề xuất các giải pháp bình ổn thị trường vật liệu xây dựng.
Bộ Y tế theo dõi chặt chẽ diễn biến giá thuốc, vật tư y tế, hóa chất xét nghiệm, thiết bị y tế và dịch vụ khám chữa bệnh, bảo đảm đầy đủ nguồn cung của thuốc, vật tư y tế phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của người dân với giá cả hợp lý.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
