Tín dụng rộng cửa, doanh nghiệp vẫn khó vay nếu thiếu tài sản bảo đảm
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15% trong năm 2026. Để mở rộng khả năng cung ứng vốn, nhà điều hành đã nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 50%; đồng thời nâng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn lên 40%. Những điều chỉnh này được kỳ vọng hỗ trợ đáp ứng nhu cầu vốn tăng thêm khoảng 1,7 triệu tỷ đồng cho 35 dự án trọng điểm.
Đến ngày 31/7/2026, tổng dư nợ của nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Trong đó, tín dụng dành cho khu vực doanh nghiệp chiếm hơn 10,7 triệu tỷ đồng, cho thấy dòng vốn ngân hàng vẫn hướng mạnh vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, quy mô tín dụng tăng không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều dễ dàng vay vốn. Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2025 của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy hơn 21% doanh nghiệp xem tiếp cận tài chính là trở ngại lớn nhất, cao hơn đáng kể so với mức bình quân toàn cầu 17,8%.
Theo ông Hồ Anh Tuân, Phó Giám đốc VCCI khu vực miền Trung - Tây Nguyên, có tới 93,5% khoản vay tại Việt Nam yêu cầu tài sản bảo đảm, cao hơn nhiều so với một số quốc gia trong khu vực như Malaysia và Thái Lan. Khoảng 75% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết khó tiếp cận vốn ngân hàng nếu không có bất động sản để thế chấp.
Điều này tạo nên nghịch lý: thanh khoản của hệ thống không thiếu, tín dụng vẫn tăng, nhưng nhiều doanh nghiệp có đơn hàng và nhu cầu mở rộng sản xuất lại chưa thể vay vốn. Rào cản không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở cách thức đánh giá khả năng trả nợ vẫn phụ thuộc nặng vào tài sản hữu hình.
Ông Lưu Công Thành, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, cho rằng tín dụng hiện vẫn dựa nhiều vào bất động sản thế chấp, trong khi việc cho vay dựa trên dòng tiền, hợp đồng, hóa đơn hoặc hàng hóa chưa phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu dữ liệu đủ độ tin cậy, cơ chế kiểm chứng và mô hình chấm điểm phù hợp.
“Doanh nghiệp không đề nghị hạ chuẩn tín dụng, cũng không mong Nhà nước hay ngân hàng chịu toàn bộ rủi ro. Điều doanh nghiệp mong muốn là được đánh giá đầy đủ hơn, không chỉ bằng tài sản đang sở hữu mà còn bằng dòng tiền, đơn hàng, năng lực quản trị và công nghệ”, ông Thành nhấn mạnh.
Những vướng mắc về lãi suất, điều kiện vay và tài sản bảo đảm tiếp tục được cộng đồng doanh nghiệp phản ánh tại buổi làm việc ngày 10/8 của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp về giải pháp tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận vốn, tín dụng.
Tại đây, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết nhu cầu vốn trung và dài hạn dành cho các dự án quốc gia đang rất lớn, trong khi nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng chủ yếu có kỳ hạn ngắn. Sự chênh lệch này đặt các tổ chức tín dụng trước áp lực cân đối kỳ hạn và kiểm soát rủi ro thanh khoản.
Dư địa giảm lãi suất cũng không còn rộng khi ngân hàng phải tăng huy động vốn, trong khi áp lực lạm phát vẫn hiện hữu. Bài toán điều hành vì thế ngày càng khó: vừa phải hỗ trợ tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, vừa bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định kinh tế vĩ mô.
Trong khi đó, việc mở rộng tín dụng không thể chỉ phụ thuộc vào phía ngân hàng. Sức chống chịu, năng lực tài chính và trình độ quản trị của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế; thị trường tiêu thụ phục hồi chưa đồng đều, trong khi chi phí đầu vào vẫn cao. Những yếu tố này làm suy giảm khả năng trả nợ và khiến các tổ chức tín dụng thận trọng hơn khi quyết định cho vay.
Do đó, nút thắt hiện nay không đơn thuần là thiếu vốn, mà là khoảng cách giữa tiêu chuẩn an toàn của ngân hàng và năng lực chứng minh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu cơ chế đánh giá tín dụng chưa chuyển mạnh từ “nhìn vào tài sản” sang “đọc được dòng tiền”, một bộ phận doanh nghiệp vẫn có thể đứng ngoài dòng vốn, dù tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng.
Thiết kế gói tín dụng theo ngành, chuỗi giá trị
Theo ông Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, doanh nghiệp hiện mong muốn ba điều cốt lõi: được tiếp cận nguồn vốn lớn hơn, với lãi suất thấp hơn và thời hạn vay dài hơn. Tuy nhiên, khoảng cách giữa nhu cầu và khả năng tiếp cận vốn không chỉ xuất phát từ cơ chế, chính sách mà còn liên quan đến năng lực tài chính của doanh nghiệp, khẩu vị rủi ro của ngân hàng và mức độ kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bên.
Thực tế, nhiều ngân hàng đã triển khai cho vay tín chấp hoặc cấp tín dụng dựa trên dòng tiền, thay vì chỉ nhìn vào giá trị tài sản bảo đảm. Song, để áp dụng rộng rãi phương thức này, doanh nghiệp phải chứng minh được hiệu quả sản xuất, kinh doanh, duy trì dòng tiền ổn định và có hệ thống sổ sách, dữ liệu tài chính minh bạch, đủ độ tin cậy để ngân hàng đánh giá rủi ro.
Ở chiều ngược lại, các ngân hàng thương mại cũng đang nỗ lực tăng cung ứng vốn, tiết giảm chi phí hoạt động để giảm lãi suất cho vay. Dù vậy, dòng tín dụng có thực sự chảy vào sản xuất, kinh doanh hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ thanh khoản của hệ thống, sức hấp thụ vốn của nền kinh tế đến tính khả thi của phương án kinh doanh và tình trạng pháp lý của từng dự án. Vì thế, hạ lãi suất mới chỉ là một phần của bài toán.
Để khơi thông nguồn vốn, cơ quan điều hành đề xuất tập trung vào ba nhóm giải pháp: tiếp tục hoàn thiện thể chế nhằm kích thích nhu cầu tín dụng thực chất; nghiên cứu cơ chế bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án trọng điểm; đồng thời đẩy nhanh giải ngân đầu tư công để tạo việc làm, đơn hàng và đưa dòng tiền quay trở lại nền kinh tế. Khi các dự án công được triển khai đúng tiến độ, doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực liên quan cũng có thêm cơ sở để mở rộng sản xuất và tiếp cận vốn ngân hàng.
Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng không thể tiếp tục gánh phần lớn nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế. Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, cần phát triển cân bằng hơn thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp và các kênh huy động vốn dài hạn khác. Điều này vừa giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào tín dụng, vừa hạn chế tình trạng ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn huy động chủ yếu ngắn hạn để đáp ứng những khoản vay có kỳ hạn dài.
Một yêu cầu quan trọng khác là thay đổi cách thiết kế và thẩm định tín dụng. Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu các ngân hàng không áp dụng một khuôn mẫu chung cho mọi doanh nghiệp, mà phải xây dựng sản phẩm phù hợp với đặc điểm của từng ngành, từng chuỗi giá trị. Doanh nghiệp nông nghiệp, bán lẻ, xuất khẩu hay công nghiệp hỗ trợ có chu kỳ vốn, dòng tiền và mức độ rủi ro khác nhau; nếu cùng bị đánh giá bằng một bộ tiêu chí cứng nhắc, nhiều phương án kinh doanh khả thi vẫn có thể bị loại khỏi “cửa” tín dụng.
Cùng với đó, chi phí vay vốn cần được công khai đầy đủ. Doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến mức lãi suất niêm yết mà cần biết tổng chi phí thực tế phải trả, bao gồm các khoản phí, điều kiện mua kèm sản phẩm, yêu cầu duy trì số dư và những nghĩa vụ phát sinh trong suốt thời hạn vay. Minh bạch hóa các khoản này sẽ giúp doanh nghiệp chủ động tính toán hiệu quả sử dụng vốn và hạn chế tình trạng lãi suất công bố thấp nhưng chi phí thực tế lại cao.
Bước đầu, bốn ngân hàng thương mại lớn đã đăng ký triển khai các gói tín dụng tổng quy mô 210.000 tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn mặt bằng chung dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dẫu vậy, ưu đãi chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm thủ tục dễ tiếp cận, tiêu chí xét duyệt rõ ràng và tiến độ giải ngân kịp thời. Nếu điều kiện vay vẫn phức tạp hoặc vượt quá năng lực đáp ứng của phần lớn doanh nghiệp nhỏ, các gói tín dụng dù có quy mô lớn cũng khó phát huy đầy đủ hiệu quả.
Do đó, vai trò của ngân hàng không nên dừng ở việc tiếp nhận và xét duyệt hồ sơ. Các tổ chức tín dụng cần tư vấn cho doanh nghiệp ngay từ khâu xây dựng phương án sản xuất, chuẩn hóa báo cáo tài chính, quản trị dòng tiền và hoàn thiện hồ sơ pháp lý. Về phía doanh nghiệp, minh bạch tài chính và nâng cao năng lực quản trị phải được xem là điều kiện căn bản để tạo dựng niềm tin với bên cho vay.
Chuyển từ tư duy cho vay nặng về tài sản bảo đảm sang đánh giá hiệu quả kinh doanh, dòng tiền và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị là hướng đi cần thiết. Khi ngân hàng hiểu rõ đặc thù từng ngành, còn doanh nghiệp chứng minh được năng lực tạo tiền và trả nợ, tín dụng mới có thể đến đúng địa chỉ, trở thành động lực cho sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng bền vững trong giai đoạn 2026–2030.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
