Nắm dòng trách lệch pha
Với một nền kinh tế mà tăng trưởng vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng như Việt Nam, việc kiểm soát hướng đi của dòng vốn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu thiếu cơ chế điều tiết hiệu quả, vốn rất dễ chảy mạnh vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là bất động sản, nơi hấp thụ vốn nhanh nhưng đóng góp hạn chế cho năng suất dài hạn của nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ nắn dòng tín dụng lại không hề đơn giản. Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được cổ phần hóa từ khá sớm, phần lớn các ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc lợi nhuận, trong khi không ít chủ ngân hàng tư nhân có mối liên hệ chặt chẽ với các tập đoàn bất động sản. Điều này khiến việc định hướng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên càng trở nên khó khăn.
Thực tế năm 2025 cho thấy độ lệch pha ngày càng rõ của dòng vốn. Dù tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 19 phần trăm, nhưng tín dụng bất động sản, đặc biệt là cho vay các nhà phát triển dự án, lại tăng với tốc độ cao hơn nhiều. Tại một số ngân hàng, dư nợ bất động sản chiếm trên 30 phần trăm tổng dư nợ, tiềm ẩn rủi ro mất cân đối trong trung và dài hạn.
Giai đoạn tới, nhu cầu tín dụng để phục vụ tăng trưởng kinh tế tiếp tục rất lớn. Tuy nhiên, tăng trưởng chỉ có thể bền vững khi dòng vốn được dẫn dắt vào những lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng thực chất, những động lực nền tảng của nền kinh tế, thay vì dồn vào khu vực đầu cơ. Trong bối cảnh đó, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước gồm Agribank, Vietcombank, VietinBank và BIDV giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực thi chính sách điều tiết của Ngân hàng Nhà nước.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc và Trung Quốc cho thấy, trong giai đoạn công nghiệp hóa, việc tập trung tiềm lực tài chính cho một số lĩnh vực trọng tâm mang ý nghĩa quyết định. Để làm được điều này, không thể thiếu vai trò của các ngân hàng thương mại nhà nước, những định chế sẵn sàng ưu tiên mục tiêu phát triển dài hạn thay vì chạy theo lợi nhuận ngắn hạn. Đây cũng là lý do nhiều quốc gia không vội vàng tư nhân hóa hệ thống ngân hàng trong giai đoạn đầu phát triển.
Theo phân tích của tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Việt Nam không thể xây dựng một nền kinh tế mạnh và bền vững nếu chỉ dựa vào thương mại và bất động sản. Muốn tự lực tự cường, nền kinh tế buộc phải hình thành các trụ cột sản xuất, chế tạo và công nghệ. Để những trụ cột đó phát triển, cần có sự hậu thuẫn đủ mạnh từ hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước.
Nghị quyết số 79 NQ TW đã xác định rõ bốn ngân hàng thương mại nhà nước là lực lượng chủ lực, đi đầu về công nghệ và năng lực quản trị, giữ vai trò chủ đạo về quy mô, thị phần và khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, nhóm ngân hàng Big4 đã đảm đương khá trọn vẹn vai trò xương sống của hệ thống tài chính quốc gia. Đây là lực lượng chủ lực trong cung ứng vốn, dẫn dắt dòng tín dụng, giữ ổn định mặt bằng lãi suất, tham gia hỗ trợ thanh khoản, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và triển khai các gói tín dụng ưu đãi cũng như các công trình, dự án trọng điểm quốc gia.
Từ góc độ quản lý, ông Nguyễn Tất Thái, Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê và Ổn định tiền tệ tài chính của Ngân hàng Nhà nước, đánh giá các ngân hàng thương mại nhà nước hiện vẫn là huyết mạch của nền kinh tế. Không chỉ đảm nhiệm vai trò cung ứng vốn và trung gian thanh toán, nhóm ngân hàng này còn là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng, góp phần triển khai các chính sách an sinh xã hội và dẫn dắt thị trường.
Trên thực tế, các ngân hàng thương mại nhà nước luôn đóng vai trò cánh tay nối dài của Ngân hàng Nhà nước trong việc thực thi chính sách tín dụng. Dòng vốn được ưu tiên cho các lĩnh vực động lực như công nghiệp chế biến chế tạo, xuất khẩu, nông nghiệp công nghệ cao, khu công nghiệp, các dự án trọng điểm quốc gia, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, nhóm ngân hàng này cũng giữ vai trò nòng cốt trong bình ổn thị trường ngoại hối, tỷ giá và duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.
Vai trò bộ giảm xóc của các ngân hàng thương mại nhà nước còn thể hiện rõ ở việc chấp nhận hy sinh lợi nhuận để chia sẻ khó khăn với nền kinh tế. Năm 2025, Vietcombank triển khai 28 chương trình ưu đãi lãi suất với tổng giá trị hỗ trợ gần 7.000 tỷ đồng, giúp hơn 81.000 khách hàng tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp.
Tương tự, BIDV chủ động tiết giảm chi phí, chấp nhận giảm thu nhập hơn 5.600 tỷ đồng để hạ lãi suất cho vay, qua đó hỗ trợ gần 400.000 khách hàng. Agribank cũng triển khai hàng loạt chương trình tín dụng ưu đãi với tổng quy mô lên tới 685.000 tỷ đồng, mức lãi suất thấp hơn thông thường từ 1 đến 2 phần trăm, đồng nghĩa với việc chấp nhận giảm thu nhập hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm.
Những con số này cho thấy vai trò trụ cột của hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước không chỉ nằm ở quy mô hay lợi nhuận, mà quan trọng hơn là khả năng dẫn dắt dòng vốn đi đúng hướng, giữ ổn định hệ thống tài chính và tạo dư địa cho tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn.
Đã có cơ chế để Big4 gia cố sức khỏe tài chính
Dù đang gánh trên vai những nhiệm vụ đặc biệt nặng nề, thực tế cho thấy các ngân hàng thương mại nhà nước đang dần chậm nhịp và đuối sức trong cuộc đua về vốn. Điều này đồng nghĩa dư địa tăng trưởng tín dụng cũng như khả năng hỗ trợ nền kinh tế có nguy cơ bị thu hẹp nếu không sớm được tháo gỡ.
Kết thúc năm 2025, nhóm ngân hàng Big4 vẫn nắm giữ khoảng 42 đến 43 phần trăm tổng tài sản và thị phần tín dụng toàn hệ thống. Tuy nhiên, vốn điều lệ của nhóm này chỉ chiếm khoảng 20 phần trăm tổng vốn điều lệ toàn ngành ngân hàng. Trong khi đó, khối ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân chỉ sở hữu khoảng 45 phần trăm tổng tài sản nhưng lại nắm tới 65 phần trăm vốn điều lệ toàn hệ thống.
Việc chậm tăng vốn là nguyên nhân trực tiếp khiến thị phần tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước liên tục thu hẹp trong nhiều thập kỷ. Nếu như năm 2004, nhóm Big4 chiếm tới 76 phần trăm thị phần tín dụng, thì đến năm 2025 con số này chỉ còn khoảng 43 phần trăm.
Theo ông Nguyễn Tất Thái, vốn điều lệ mỏng giống như một chiếc áo quá chật đang tạo sức ép lớn lên hệ số an toàn vốn, qua đó hạn chế dư địa tín dụng và khả năng tham gia tài trợ cho các dự án trọng điểm quốc gia trong giai đoạn tới.
Thực tế hiện nay, hầu hết các ngân hàng thương mại nhà nước đều có hệ số an toàn vốn ở mức thấp so với yêu cầu phát triển. Điển hình như BIDV, dù là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất hệ thống với hơn 3,25 triệu tỷ đồng, nhưng vốn điều lệ chỉ hơn 70.000 tỷ đồng, khiến hệ số CAR duy trì quanh mức 9 phần trăm. Agribank cũng tụt hạng từ vị trí ngân hàng có quy mô tài sản lớn nhất hệ thống xuống nhóm năm ngân hàng hàng đầu, sau nhiều năm gặp khó khăn trong việc bổ sung vốn tự có.
Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2026, ông Tô Huy Vũ, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank, đã kiến nghị Chính phủ quan tâm tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước, trong đó có Agribank, nhằm nâng cao năng lực cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.
Theo tính toán của Agribank, để mỗi năm có thể tăng thêm khoảng 200.000 tỷ đồng dư nợ tín dụng, ngân hàng cần bổ sung từ 15.000 đến 17.000 tỷ đồng vốn tự có. Do đó, ngân hàng mong muốn được giữ lại tối thiểu 10.000 tỷ đồng lợi nhuận hàng năm để phục vụ mục tiêu tăng vốn.
Trước đó, Chủ tịch Hội đồng quản trị BIDV Phan Đức Tú cũng cho biết, trong bối cảnh nhu cầu vốn cho nền kinh tế ngày càng lớn, năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại nhà nước buộc phải được nâng lên tương ứng. Áp lực này càng rõ nét khi nhiều ngân hàng lớn trong khu vực ASEAN đã triển khai tiêu chuẩn Basel III, trong khi Việt Nam vẫn đang trong lộ trình tiếp cận.
Theo ông Phan Đức Tú, các ngân hàng thương mại nhà nước đang phải đối mặt với sức ép kép, vừa phải tăng trưởng để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của nền kinh tế, vừa phải nâng cao năng lực tài chính để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế ngày càng khắt khe. Vì vậy, việc cho phép giữ lại lợi nhuận để tăng vốn điều lệ là yêu cầu mang tính cấp thiết.
Báo cáo trước Quốc hội cuối năm 2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết, dù việc tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước đã được các cấp có thẩm quyền quan tâm và từng bước xử lý, song mức tăng vẫn còn khoảng cách khá lớn so với nhu cầu thực tế. Nguyên nhân là do việc bổ sung vốn phụ thuộc nhiều vào ngân sách nhà nước và phải trải qua quy trình xin ý kiến của nhiều bộ, ngành liên quan.
Điểm tích cực là Nghị quyết số 79 NQ TW đã mở ra cơ chế mới cho quá trình gia cố năng lực tài chính của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước. Nghị quyết xác định rõ cần có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn thông qua tăng vốn điều lệ, trong đó cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước và tăng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại cho doanh nghiệp.
Theo phân tích của các chuyên gia Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, Nghị quyết 79 NQ TW được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt quan trọng trong lộ trình tăng vốn của khối ngân hàng quốc doanh. Hai ngân hàng hưởng lợi rõ nét nhất là BIDV và VietinBank, những đơn vị đang chịu áp lực lớn do thiếu hụt vốn cấp một trong nhiều năm qua.
Nghị quyết cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có ít nhất ba ngân hàng thương mại nhà nước nằm trong nhóm một trăm ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản. Với cơ chế mở về tăng vốn, khoảng cách để nhóm Big4 ghi danh vào top các ngân hàng khu vực được rút ngắn đáng kể.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, giá trị cốt lõi của Nghị quyết 79 NQ TW không chỉ nằm ở mục tiêu xếp hạng hay quy mô. Quan trọng hơn, nghị quyết tạo nền tảng để củng cố sức khỏe tài chính của các ngân hàng thương mại nhà nước, giúp các ngân hàng này đủ năng lực thực hiện vai trò chủ lực trong điều tiết dòng vốn, mở đường cho các dự án lớn và các lĩnh vực ưu tiên, qua đó góp phần giữ ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn

