Theo quyết định này, tổng lượng phát thải tối đa dành cho ba ngành có cường độ phát thải lớn gồm nhiệt điện, sắt thép và xi măng trong năm 2026 là hơn 268 triệu tấn CO₂ tương đương (CO₂tđ), tăng 10,4% so với mức hơn 243 triệu tấn CO₂tđ của năm 2025.
Hạn ngạch phát thải được phân bổ cho 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sản xuất sắt thép và 51 cơ sở sản xuất xi măng – những lĩnh vực đóng vai trò trụ cột trong tăng trưởng kinh tế, song cũng là nhóm phát thải lớn nhất trong cơ cấu phát thải quốc gia. Việc thiết lập trần phát thải cho từng ngành không chỉ nhằm kiểm soát lượng khí nhà kính mà còn tạo nền tảng cho việc triển khai cơ chế mua bán hạn ngạch và tín chỉ carbon trong thời gian tới.
Hạn ngạch phát thải khí nhà kính được hiểu là mức trần tối đa mà một ngành, doanh nghiệp hoặc quốc gia được phép phát thải trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Trên cơ sở đó, các đơn vị phát thải vượt hạn ngạch sẽ phải mua lại quyền phát thải từ những doanh nghiệp có mức phát thải thấp hơn, hoặc bù trừ bằng tín chỉ carbon, qua đó hình thành một cơ chế thị trường khuyến khích đầu tư vào công nghệ sạch và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy vận hành thị trường carbon trong nước
Theo phân công, Bộ Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò chủ trì, phối hợp cùng Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng tổ chức phân bổ hạn ngạch phát thải cho từng cơ sở sản xuất trong hai năm thí điểm, đồng thời hướng dẫn doanh nghiệp triển khai thực hiện, theo dõi, đánh giá kết quả và đề xuất hoàn thiện khung pháp lý về kiểm kê khí nhà kính và phân bổ hạn ngạch.
Các bộ quản lý chuyên ngành sẽ chịu trách nhiệm giám sát việc tuân thủ hạn ngạch của doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của cơ chế mới.
Trước đó, vào cuối tháng 1, Chính phủ đã ban hành cơ chế hoạt động của sàn giao dịch carbon trong nước. Việc phân bổ hạn ngạch phát thải được xem là bước đi tiếp theo, mang tính bản lề, giúp từng bước hình thành hệ sinh thái thị trường carbon, tạo công cụ điều tiết phát thải bằng cơ chế kinh tế thay vì chỉ dựa vào biện pháp hành chính.
Theo lộ trình, sàn giao dịch tín chỉ carbon sẽ được thí điểm đến năm 2028, trước khi chính thức vận hành từ năm 2029. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp sẽ từng bước làm quen với việc kiểm kê, báo cáo phát thải, giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon, qua đó nâng cao năng lực quản trị môi trường, tăng khả năng thích ứng với các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế.
Việc triển khai cơ chế hạn ngạch phát thải và thị trường carbon không chỉ góp phần hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Việt Nam, mà còn mở ra dư địa chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững hơn. Đối với doanh nghiệp, đây vừa là thách thức về chi phí tuân thủ, vừa là động lực thúc đẩy đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn trong bối cảnh xu hướng thương mại xanh đang trở thành chuẩn mực toàn cầu.
Tín chỉ carbon (carbon credit) là một loại giấy phép hoặc chứng chỉ có thể giao dịch, có giá trị mua bán và cung cấp cho người nắm giữ tín chỉ quyền phát thải một tấn CO2 hoặc loại khí thải khác nằm trong danh sách khí thải nhà kính.
Sàn giao dịch tín chỉ carbon tại Việt Nam dự kiến vận hành chính thức từ năm 2029.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn

