Vụ việc đường dây giết mổ, tiêu thụ lợn bệnh quy mô lớn vừa bị triệt phá tại Hà Nội đã phơi bày một chuỗi vi phạm có tổ chức, kéo dài qua nhiều khâu từ chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ đến phân phối. Đáng chú ý, nhiều lô lợn bệnh, thậm chí có dấu hiệu đã chết, vẫn được “hợp thức hóa” bằng giấy kiểm dịch và đưa vào lưu thông trên thị trường, len lỏi tới cả các bếp ăn tập thể, trong đó có trường học.
Quá trình điều tra bước đầu cho thấy không chỉ có sự gian dối của doanh nghiệp, mà còn có dấu hiệu tiếp tay, làm sai lệch hồ sơ từ một số cán bộ trong hệ thống kiểm dịch và quản lý an toàn thực phẩm. Vụ án không chỉ gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ thực phẩm bẩn xâm nhập sâu vào chuỗi tiêu dùng, mà còn đặt ra vấn đề nghiêm trọng về tính liêm chính trong thực thi pháp luật và những “kẽ hở” trong kiểm soát chuỗi cung ứng hiện nay.
Để rộng đường dư luận, Tạp chí Thương Trường đã thực hiện cuộc phỏng vấn với Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), nhằm làm rõ các lỗ hổng pháp lý, trách nhiệm của các bên liên quan cũng như những giải pháp cần thiết để bịt kín “đường đi” của thực phẩm bẩn trong thời gian tới.
PV: Thưa ông, liên quan đến vụ đường dây giết mổ, tiêu thụ lợn bệnh quy mô lớn tại Hà Nội, dư luận đặt câu hỏi: quy trình cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm và giấy kiểm dịch hiện nay có đang quá dễ dãi?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Cần nhìn nhận một cách khách quan rằng, vấn đề không nằm ở việc cấp phép “quá dễ dàng”, mà nằm ở những sai phạm nghiêm trọng trong quá trình thực thi pháp luật. Theo Luật An toàn thực phẩm 2010 và các quy định hiện hành, việc cấp giấy chứng nhận không phải là thủ tục hình thức. Cơ sở sản xuất, kinh doanh phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, quy trình, nguồn nguyên liệu và phải trải qua thẩm định thực tế.
Tương tự, quy trình kiểm dịch động vật theo Luật Thú y 2015 cũng được thiết kế nhiều tầng kiểm soát, từ kiểm tra sức khỏe, nguồn gốc, xét nghiệm khi cần thiết đến kiểm soát trước và sau giết mổ. Về mặt pháp luật, hệ thống này là tương đối chặt chẽ.
Tuy nhiên, vụ việc vừa qua cho thấy dấu hiệu rõ ràng của việc cấu kết, hợp thức hóa hồ sơ, làm sai lệch toàn bộ quy trình. Khi yếu tố con người bị tha hóa, thì mọi “hàng rào kỹ thuật” đều có thể bị vô hiệu hóa.
PV: Có ý kiến cho rằng các loại giấy chứng nhận đang trở thành “bùa hộ mệnh” cho doanh nghiệp làm ăn gian dối. Quan điểm của ông thế nào?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Có thể nói thẳng, trong một số trường hợp, giấy phép đang bị biến tướng theo hướng đó. Nhưng cần khẳng định rõ: bản thân giấy phép không có lỗi, vấn đề nằm ở cách nó bị lợi dụng.
Về bản chất pháp lý, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm chỉ xác nhận điều kiện tại thời điểm thẩm định, còn giấy kiểm dịch chỉ có giá trị với từng lô hàng cụ thể. Nó không phải “lá bùa” bảo đảm an toàn cho toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh.
Điều đáng lo là tâm lý “tin vào giấy tờ” khiến nhiều khâu trong chuỗi cung ứng bị buông lỏng kiểm soát thực chất. Khi hồ sơ bị làm giả hoặc cấp sai, giấy tờ lại trở thành công cụ che chắn cho vi phạm.
Đây cũng là hệ quả của việc quản lý còn nặng về tiền kiểm, trong khi hậu kiểm chưa đủ mạnh và chưa đủ sâu.
PV: Trong vụ việc lợn bệnh vào bếp ăn trường học, đơn vị trung gian cung cấp suất ăn cho rằng họ có đầy đủ giấy tờ và là “nạn nhân”. Quan điểm pháp lý về vấn đề này ra sao?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Pháp luật không tiếp cận theo hướng “có giấy tờ là vô can”. Đơn vị cung cấp suất ăn không chỉ chịu trách nhiệm chế biến, mà còn phải kiểm soát nguồn gốc và chất lượng nguyên liệu đầu vào.
Việc viện dẫn giấy kiểm dịch hay giấy chứng nhận từ nhà cung cấp không phải là căn cứ để miễn trừ trách nhiệm. Đây chỉ là một phần của quy trình kiểm soát, không thay thế nghĩa vụ thẩm định thực chất.
Tuy nhiên, trách nhiệm cụ thể còn phụ thuộc vào yếu tố lỗi. Nếu doanh nghiệp chứng minh được đã thực hiện đầy đủ quy trình kiểm tra, lựa chọn nhà cung cấp hợp pháp và không thể nhận biết gian lận, họ có thể được xem là bên bị thiệt hại.
Ngược lại, nếu có dấu hiệu biết hoặc phải biết rủi ro nhưng vẫn bỏ qua, thì hoàn toàn có thể bị xử lý, kể cả trách nhiệm hình sự.
PV: Từ việc nhiều doanh nghiệp và cả cán bộ bị khởi tố, theo ông, đâu là những lỗ hổng lớn nhất trong cơ chế cấp phép và kiểm soát?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Có thể chỉ ra một số điểm cốt lõi:
Thứ nhất, cơ chế quản lý vẫn thiên về tiền kiểm, trong khi hậu kiểm chưa đủ hiệu quả. Nhiều cơ sở sau khi được cấp phép không duy trì điều kiện nhưng vẫn sử dụng giấy phép để giao dịch.
Thứ hai, quy trình phụ thuộc quá nhiều vào yếu tố con người. Khi quyền đánh giá tập trung vào cá nhân mà thiếu giám sát độc lập, nguy cơ tiêu cực là rất lớn.
Thứ ba, hệ thống truy xuất nguồn gốc còn rời rạc, chủ yếu dựa vào hồ sơ giấy. Khi hàng hóa đi qua nhiều tầng trung gian, việc kiểm soát thực chất gần như bị “làm mờ”.
Thứ tư, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa đồng bộ, thiếu dữ liệu liên thông.
Và cuối cùng, cơ chế giám sát, chế tài nội bộ chưa đủ sức răn đe trong thực tế.
Nhìn tổng thể, có thể thấy ba “điểm nghẽn” chính: lệch pha giữa tiền kiểm – hậu kiểm, phụ thuộc con người, và thiếu minh bạch trong truy xuất nguồn gốc.
PV: Theo ông, giữa kiểm dịch và kiểm soát an toàn thực phẩm, khâu nào quan trọng hơn?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Không thể đặt vấn đề “khâu nào quan trọng hơn”, bởi đây là hai tầng kiểm soát bổ trợ cho nhau.
Kiểm dịch là “cửa chặn từ gốc”, còn an toàn thực phẩm là “hàng rào cuối”. Chỉ cần một khâu bị vô hiệu hóa, toàn bộ hệ thống sẽ sụp đổ.
Vấn đề không phải chọn khâu nào, mà là làm sao để các khâu này liên kết thành một hệ thống thống nhất, không bị đứt gãy.
Giải pháp căn cơ là chuyển từ quản lý theo từng khâu sang quản lý theo chuỗi; xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử liên thông; tăng cường hậu kiểm và kiểm tra đột xuất; đồng thời minh bạch hóa trách nhiệm cá nhân trong toàn bộ hệ thống.
Khi trách nhiệm được “định danh” rõ ràng và không thể né tránh, những kẽ hở hiện nay mới có thể được bịt kín. Từ vụ việc lợn bệnh vẫn có thể “đi thẳng” vào bếp ăn trường học, có thể thấy rõ một nghịch lý: hệ thống pháp luật không thiếu, nhưng kỷ luật thực thi lại bị bẻ cong.
Như luật sư Nguyễn Văn Tuấn nhấn mạnh, giấy phép không phải là lá chắn bảo đảm an toàn, mà chỉ là một mắt xích trong chuỗi kiểm soát. Khi mắt xích này bị lợi dụng, toàn bộ hệ thống sẽ trở thành hình thức.
Và khi thực phẩm bẩn có thể đi xuyên qua nhiều lớp “kiểm soát”, thì vấn đề không còn nằm ở quy định mà nằm ở con người.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
