Giá cà phê giảm nhẹ, Robusta tăng trên sàn London
Khảo sát tại khu vực Tây Nguyên cho thấy giá cà phê nhân xô hôm nay dao động từ 86.800 - 87.400 đồng/kg, giảm khoảng 600 - 700 đồng/kg so với tuần trước.
Cụ thể, tại Lâm Đồng, giá cà phê được thu mua ở mức 86.800 đồng/kg. Tại Gia Lai và Đắk Lắk, giá cà phê cùng ở mức 87.300 đồng/kg. Đắk Nông (cũ) tiếp tục là địa phương có giá cao nhất với 87.400 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê Robusta trên sàn London ghi nhận tăng trong tuần qua. Hợp đồng giao tháng 7/2026 tăng 20 USD/tấn, tương đương 0,6%, lên 3.476 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 37 USD/tấn, tương đương 1,1%, lên 3.347 USD/tấn.
Ngược lại, giá cà phê Arabica trên sàn New York giảm. Hợp đồng giao tháng 7/2026 giảm 6,8 US cent/pound, tương đương 2,5%, xuống còn 265,6 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 6,1 US cent/pound, tương đương 2,3%, còn 258,7 US cent/pound.
Theo Safras & Mercado, tính đến ngày 27/5, Brazil đã thu hoạch gần 16% sản lượng cà phê niên vụ mới, tương đương khoảng 12,1 triệu bao. Trong đó có khoảng 6,11 triệu bao Robusta (Conilon) và 5,99 triệu bao Arabica.
Tồn kho cà phê Arabica chế biến ướt được chứng nhận trên Sàn New York đạt 443.608 bao tính đến ngày 27/5/2026, giảm 448.860 bao, tương đương 50,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, tồn kho Robusta được chứng nhận trên Sàn London đạt 653.500 bao, giảm 251.167 bao, tương đương 27,76% so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá hồ tiêu giảm tuần thứ hai liên tiếp
Giá tiêu trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm trong tuần qua, hiện dao động từ 137.000 - 142.000 đồng/kg. Tại Đồng Nai, giá tiêu giảm 3.000 đồng/kg so với tuần trước, xuống còn 137.000 đồng/kg. Gia Lai giảm 2.000 đồng/kg, hiện giao dịch ở mức 137.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM), giá tiêu ở mức 139.000 đồng/kg sau khi giảm 2.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Đắk Lắk và Đắk Nông (cũ) duy trì mức giá cao nhất cả nước là 142.000 đồng/kg và không ghi nhận biến động trong tuần qua.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu đen Indonesia tăng 173 USD/tấn lên 7.152 USD/tấn. Giá tiêu đen Brazil giảm 150 USD/tấn xuống còn 6.100 USD/tấn. Giá tiêu đen Malaysia giữ nguyên ở mức 9.350 USD/tấn.
Đối với tiêu xuất khẩu của Việt Nam, giá tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Indonesia đạt 9.231 USD/tấn; tiêu trắng Malaysia ở mức 12.250 USD/tấn và tiêu trắng Việt Nam duy trì 9.000 USD/tấn.
Theo số liệu của Cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 5/2026, Việt Nam xuất khẩu 10.140 tấn hồ tiêu, thu về 66,5 triệu USD. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/5, xuất khẩu hồ tiêu đạt 106.947 tấn, kim ngạch 689,3 triệu USD.
Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, một số mặt hàng gạo nguyên liệu xuất khẩu ghi nhận tăng giá trong ngày 1/6.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 tăng 200 đồng/kg, dao động từ 8.600 - 8.700 đồng/kg. Gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 100 đồng/kg, dao động từ 9.100 - 9.200 đồng/kg.
Các mặt hàng khác duy trì ổn định, gồm gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc Thơm ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động từ 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, gạo Nàng Nhen được niêm yết ở mức 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài từ 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường từ 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine từ 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường từ 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg và gạo Nhật 22.000 đồng/kg.
Ở phân khúc nếp, giá nếp IR 4625 tươi dao động từ 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp khô 3 tháng ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, lúa OM 18 tươi và Đài Thơm 8 tươi cùng dao động từ 6.400 - 6.500 đồng/kg. Lúa OM 5451 tươi ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg. Lúa IR 50404 tươi tăng 100 đồng/kg, lên 5.500 - 5.600 đồng/kg. Lúa OM 34 tươi dao động từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, gạo Jasmine của Việt Nam được chào bán ở mức 528 - 532 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm từ 505 - 520 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm từ 337 - 341 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan dao động từ 434 - 438 USD/tấn, gạo 100% tấm từ 409 - 413 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm ở mức 342 - 346 USD/tấn và gạo 100% tấm từ 280 - 284 USD/tấn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương, trong nửa đầu tháng 5/2026, Việt Nam xuất khẩu 473.000 tấn gạo với trị giá 220 triệu USD. Lũy kế đến ngày 15/5/2026, xuất khẩu gạo đạt gần 3,8 triệu tấn, kim ngạch khoảng 1,8 tỷ USD.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
