Đường sắt giảm cước vận tải hàng hóa khi giá nhiên liệu giảm

Từ ngày 15/7 tới nay, giá nhiên liệu giảm mạnh, nên đường sắt cũng linh hoạt điều chỉnh giảm giá cước.

Khi giá xăng dầu tăng cao, Công ty CP Vận tải đường sắt Hà Nộiđã tăng cước vận tải hàng hóa thêm 5%. Tuy nhiên khi giá nhiên liệu giảm mạnh, ngành đường sắt cũng linh hoạt điều chỉnh giảm giá cước.

Cụ thể, từ ngày 15/7, đường sắt giảm 3% giá cước phổ thông nguyên toa, giá cước tính sẵn đối với các mặt hàng vận chuyển tại các ga trong phạm vi từ ga Kim Liên trở ra các ga phía Bắc vận chuyển đi các ga trên các tuyến đường sắt.

Từ ngày 5/8, tiếp tục giảm 2% giá cước. Như vậy, tổng cộng giảm 5% so với giá cước tháng 6/2022.

Giá cước hàng tàu chuyên tuyến giữa Yên Viên, Giáp Bát - Sóng Thần dao động trong khoảng 12-18 triệu đồng/toa/lượt tùy theo chủng loại toa xe, mác tàu, ngày xuất phát. Ngoài ra, đường sắt có các chính sách ưu đãi, giảm giá cước riêng.

Với tàu khách, từ ngày 3/8, đường sắt cũng điều chỉnh giảm giá vé so với trước đó theo giá nhiên liệu giảm. Cụ thể, tàu Thống nhất Bắc - Nam giảm 5% giá vé khoang giường nằm, và giảm 3% với khoang ghế ngồi; tàu khách tuyến Hà Nội - Vinh và Hà Nội - Lào Cai giảm chung 10% giá vé tất cả các khoang. Sau khi giảm giá vé, vé giường nằm cao nhất trên tuyến Hà Nội - TPHCM đi vào đầu tuần còn khoảng 1,51 triệu đồng/vé/chiều.

Đường sắt giảm cước vận tải hàng hóa khi giá nhiên liệu giảm

Theo chia sẻ của ông Mai Hoàng Long, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Vận tải và thương mại đường sắt (Ratraco), giá vận tải ngoài giá cước vận chuyển hàng từ ga đến ga, còn bao gồm nhiều chi phí khác như: bốc xếp, lưu kho, vận tải đường ngắn bằng ô tô hai đầu... Do đó, khi ký hợp đồng vận tải hàng hóa với các khách hàng, trong điều khoản đã thống nhất rõ chi phí nhiên liệu chiếm tỷ lệ 35% giá dịch vụ.

Đầu năm 2022, giá nhiên liệu tăng tới 25% so với trung bình giá nhiên liệu năm 2021, tác động trực tiếp đến giá thành vận tải của Ratraco. Dù chi phí nhiên liệu đã được tính trong giá thành vận tải theo quy định hợp đồng thì việc giá nhiên liệu tăng "nóng" đã làm giá thành vận tải tăng khoảng 10%.

Để bù đắp một phần tăng chi phí từ nhiên liệu, đơn vị đã phải tổ chức thương thảo với các khách hàng lớn, truyền thống để điều chỉnh giá cước vận tải hàng hóa tăng từ 5-7% trên tinh thần cùng chia sẻ, giữ chân khách hàng. Khi giá nhiên liệu giảm, đơn vị cũng điều chỉnh giảm giá cước vận tải theo tỷ lệ tương ứng.

Trước đó, Tổng công ty Đường sắt (VNR) cũng chỉ đạo các doanh nghiệp vận tải đường sắt trực thuộc chủ động điều chỉnh giá cước vận tải đường sắt theo biến động giá nhiên liệu và yêu cầu sản xuất kinh doanh. Việc điều chỉnh phải thông báo trước, công khai, rõ ràng với khách hàng. Khi giá nhiên liệu giảm, các đơn vị phải có giải pháp giảm cước kịp thời.

Tuy nhiên, lãnh đạo đường sắt cũng cho rằng, hiện giá xăng dầu điều chỉnh liên tục theo chu kỳ 10 ngày 1 lần, doanh nghiệp cũng rất khó để điều chỉnh cước vận tải theo từng đợt như vậy. Do đó, việc tăng hay giảm cước vận tải đường sắt theo giá nhiên liệu biến động thực hiện theo chu kỳ dài hơn, khi giá nhiên liệu tăng cước sẽ chưa điều chỉnh ngay, doanh nghiệp chấp nhận giảm lợi nhuận. Ngược lại, khi giá nhiên liệu giảm cũng phải có thời gian để doanh nghiệp điều chỉnh giảm cước.

Để hạn chế tình trạng "tăng nhanh, giảm chậm" như hiện nay, ông Đỗ Công Thủy, Phó Vụ trưởng Vụ Vận tải, Tổng cục Đường bộ Việt Nam (Bộ GTVT) cho hay việc giảm giá vé hay không phụ thuộc phần lớn vào kê khai lại của doanh nghiệp.

Ví dụ, tại thời điểm doanh nghiệp kê khai, giá xăng dầu cao nhất là 32.000 đồng, sau đó lại giảm xuống 25.000 đồng. Nếu doanh nghiệp không giảm giá vé đã tăng trước đó là 10%, các sở GTVT có thể yêu cầu doanh nghiệp rà soát kê khai lại.

Khi doanh nghiệp kê khai lại, các chi phí đầu vào và xăng dầu có tăng hay giữ nguyên so với mức giá tăng cao nhất của xăng dầu mới tính toán được giá cước vận tải có cao hay không.

Tuy nhiên, ông Thủy cũng chia sẻ hiện nay chưa có quy định yêu cầu doanh nghiệp phải kê khai lại giá khi giá xăng, dầu giảm. Do đó, khi sửa các nghị định về kê khai giá, có thể kiến nghị bổ sung nội dung: Khi các yếu tố đầu vào hình thành giá thay đổi, nếu doanh nghiệp không thực hiện điều chỉnh giá, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được yêu cầu doanh nghiệp kê khai lại.

Theo ông Thủy, để góp phần bình ổn giá tiêu dùng, Tổng cục Đường bộ Việt Nam cũng chỉ có hình thức đề nghị các sở GTVT yêu cầu doanh nghiệp vận tải rà soát, giảm giá cước phù hợp với diễn biến giảm giá xăng dầu.

Tin liên quan
Tin khác
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị
Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang có thêm cơ hội khi các chuỗi cung ứng toàn cầu mở rộng hiện diện trong nước. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi không chỉ nằm ở khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng mà còn ở mức độ doanh nghiệp Việt có thể đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ công nghệ, vật liệu đến thiết kế và phát triển sản phẩm.

Standard Chartered giữ dự báo GDP Việt Nam năm 2026 tăng 9,5%
Standard Chartered giữ dự báo GDP Việt Nam năm 2026 tăng 9,5%

Standard Chartered dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam quý III/2026 đạt 8,7% so với cùng kỳ năm trước, đưa tăng trưởng nửa cuối năm lên 10,6% và giữ nguyên dự báo GDP cả năm ở mức 9,5%. Sản xuất công nghiệp, thương mại và nhu cầu nội địa tiếp tục được xác định là những động lực hỗ trợ tăng trưởng trong những tháng cuối năm.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc