Bộ Công Thương phê duyệt Chương trình phát triển công nghệ cao đến năm 2030

Bộ Công Thương mới đây đã ban hành Quyết định 1992/QĐ-BCT phê duyệt khung Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao (Chương trình) thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2030.

Trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời cuộc CMCN 4.0 đã và đang tạo ra nhiều cơ hội và thách thức, Chính phủ đã thực hiện nhiều quyết sách nhằm tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, đảm bảo sự phát triển KHCN trong nhiều lĩnh vực bắt nhịp với tốc độ phát triển khu vực và thế giới.

Ngày 27/01/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2030. Chương trình gồm 03 chương trình thành phần gồm: Chương trình nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ cao, phát triển sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao (Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì); Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao (Bộ Công Thương chủ trì) và Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì).

Nhằm cụ thể hoá các mục tiêu, nội dung của Quyết định số 130/QĐ-TTg, ngày 20/8/2021, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1992/QĐ-BCT phê duyệt khung Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao. Trong giai đoạn mới, Chương trình được xác định sẽ tiếp tục kế thừa, phát triển hơn nữa các thành quả KHCN trước đó, đồng thời triển khai các nhiệm vụ, dự án bám sát vào yêu cầu thực tiễn của ngành Công Thương và đất nước trong bối cảnh tham gia sâu vào cuộc CMCN lần thứ 4.

Trong giai đoạn mới, Chương trình sẽ tiếp tục kế thừa các thành quả KHCN trước đó, đồng thời bám sát yêu cầu thực tiễn của ngành Công Thương và đất nước trong bối cảnh mới. Chương trình có mục tiêu nghiên cứu, làm chủ, phát triển công nghệ cao, ứng dụng hiệu quả công nghệ cao trong sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ công nghệ cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; góp phần hình thành, phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao và hệ sinh thái doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

Bộ Công Thương phê duyệt Chương trình phát triển công nghệ cao đến năm 2030
Ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao bắt nhịp khu vực và thế giới trong giai đoạn mới

Chương trình đặt ra các mục tiêu cụ thể gồm: phát triển và làm chủ một số công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao ưu tiên đầu tư phát triển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, ứng dụng có hiệu quả vào sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ công nghệ cao; thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực công nghiệp, năng lượng.

Bên cạnh đó, tập trung đẩy mạnh sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao trong Danh mục sản phẩm được khuyến khích phát triển, góp phần gia tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo; góp phần xây dựng và phát triển công nghiệp công nghệ cao; hình thành hệ sinh thái các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; phát triển công nghiệp hỗ trợ phục vụ phát triển công nghiệp công nghệ cao.

Trong đó, tập trung định hướng ưu tiên phát triển các lĩnh vực có nhiều ưu thế cạnh tranh trong cuộc CMCN 4.0 gồm: công nghiệp năng lượng, công nghiệp sinh học, công nghiệp vật liệu mới, công nghiệp điện tử - công nghệ số, công nghiệp chế tạo và tự động hoá. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2030, triển khai thành công ít nhất 30 dự án công nghệ cao ứng dụng trong công nghiệp, có tính lan tỏa về mặt KH&CN và kinh tế-xã hội.

Về chỉ tiêu đánh giá, Chương trình yêu cầu 100% dự án tham gia phải xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp, do doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp và được ứng dụng, thử nghiệm tại doanh nghiệp. Tối thiểu 70% đề tài, dự án có vốn đối ứng ngoài ngân sách và không dưới 70% đề tài, dự án đủ điều kiện trở thành sản phẩm thương mại, chuyển giao công nghệ để doanh nghiệp sản xuất đưa sản phẩm ra thị trường.

Các dự án cũng phải đáp ứng chỉ tiêu KHCN cụ thể: sở hữu trí tuệ và đào tạo đặt ra yêu cầu tối thiểu 70% công nghệ đạt chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật tương đương với công nghệ tiên tiến các nước trong khu vực hoặc trên thế giới. Ngoài ra, ít nhất 80% đề tài, dự án phải được công bố trên các tạp chí KHCN uy tín trong nước hoặc quốc tế. Đồng thời không dưới 60% đề tài, dự án phải được chấp nhận đơn đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Vụ Khoa học và Công nghệ với vai trò được Bộ Công Thương giao nhiệm vụ quản lý tổ chức sẽ tạo điều kiện tối đa để các đơn vị đăng ký tham gia, hướng dẫn đơn vị thực hiện nhiệm vụ theo đúng quy trình thủ tục. Đồng thời, Vụ cũng sẽ thúc đẩy, giúp kết nối doanh nghiệp và các viện, trường, cơ sở nghiên cứu để đảm bảo các nhiệm vụ, dự án có sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học - sản xuất nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao vượt trội, có sức cạnh tranh trên thị trường, theo đúng mục tiêu và định hướng đã đề ra.

Trước đó, trong giai đoạn 2011-2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp công nghệ cao đến năm 2020. 

Kết thúc giai đoạn 2011-2020, Chương trình đã đạt được nhiều thành quả tích cực. Các nhiệm vụ tham gia Chương trình đều có sản phẩm đầu ra định hướng thị trường rất cao và là những dự án công nghệ cao tiên phong được triển khai đầu tư tại Việt Nam; được thực hiện theo mô hình doanh nghiệp chủ trì, kết hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học thúc đẩy nghiên cứu, phát triển nhằm làm chủ công nghệ cao, tạo ra sản phẩm công nghệ cao ở quy mô lớn; ứng dụng rộng rãi công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội.

Mặc dù tỷ lệ nguồn vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ triển khai các nhiệm vụ thuộc Chương trình chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với kinh phí đối ứng từ phía doanh nghiệp (với tỷ lệ ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 20% trên tổng số kinh phí phê duyệt của nhiệm vụ), tuy nhiên Chương trình đã đạt được nhiều kết quả và hiệu ứng rất tích cực; có thể coi đây là một trong những mô hình tiêu biểu cho hợp tác công - tư (PPP) hiện đang được chính phủ tập trung chỉ đạo để phát triển trong thời gian tới.

 

Tin khác
Giao dịch logistics “lai” đặt ra yêu cầu mới về quản trị dữ liệu và chứng từ
Giao dịch logistics “lai” đặt ra yêu cầu mới về quản trị dữ liệu và chứng từ

Chuyển đổi số đang thúc đẩy ngành logistics nhưng mô hình kết hợp giữa chứng từ giấy và giao dịch điện tử cũng làm gia tăng rủi ro pháp lý. Doanh nghiệp cần kiểm soát dữ liệu, xác thực chứng từ và xác lập rõ thứ tự ưu tiên để hạn chế tranh chấp.

TP Hồ Chí Minh kỳ vọng tạo cú hích mới từ mô hình outlet
TP Hồ Chí Minh kỳ vọng tạo cú hích mới từ mô hình outlet

TP Hồ Chí Minh đang nghiên cứu phát triển các mô hình outlet quy mô lớn, kết hợp mua sắm, dịch vụ, giải trí và du lịch, nhằm tăng sức hút điểm đến và nâng mức chi tiêu của du khách.

FDI vào Việt Nam: Hạ tầng tốt chưa đủ, tốc độ triển khai mới là lợi thế
FDI vào Việt Nam: Hạ tầng tốt chưa đủ, tốc độ triển khai mới là lợi thế

Dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh khi sản xuất, hạ tầng và vị trí trong chuỗi cung ứng khu vực ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế, lợi thế về chi phí, thị trường và vị trí địa lý đang phải đi cùng một yêu cầu ngày càng rõ: rút ngắn khoảng cách từ quyết định đầu tư đến khi dự án có thể vận hành thực tế.

Dệt may tìm dư địa tăng trưởng từ chuyển đổi xanh
Dệt may tìm dư địa tăng trưởng từ chuyển đổi xanh

Xuất khẩu dệt may 7 tháng đầu năm 2026 đạt 27,02 tỷ USD, tăng 2,67% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, hàng may mặc chỉ tăng 0,70%, thấp hơn nhiều so với xơ sợi, vải và phụ liệu. Diễn biến này cho thấy doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh bằng giá, chất lượng và tiến độ giao hàng, mà còn cần kiểm soát tốt nguyên liệu, năng lượng, phát thải và truy xuất nguồn gốc.

Savills chỉ ra lợi thế cạnh tranh tiếp theo của Việt Nam trong cuộc đua hút vốn quốc tế
Savills chỉ ra lợi thế cạnh tranh tiếp theo của Việt Nam trong cuộc đua hút vốn quốc tế

Theo Savills Việt Nam, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn quốc tế ngày càng lớn, lợi thế của Việt Nam không chỉ nằm ở nền tảng sản xuất hay vị thế trong chuỗi cung ứng khu vực. Hạ tầng ngày càng hoàn thiện, môi trường pháp lý minh bạch và khả năng đưa dự án vào vận hành hiệu quả đang trở thành những yếu tố quan trọng để chuyển hóa tăng trưởng thành dòng vốn đầu tư dài hạn.

An ninh năng lượng kích hoạt chu kỳ đầu tư mới ngành dầu khí
An ninh năng lượng kích hoạt chu kỳ đầu tư mới ngành dầu khí

Giá dầu neo ở mức cao, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng gia tăng cùng loạt dự án khai thác, khí - LNG và lọc hóa dầu đang mở ra chu kỳ đầu tư mới cho ngành dầu khí Việt Nam. Dòng vốn được kỳ vọng lan tỏa trên toàn chuỗi, từ thượng nguồn đến hạ nguồn, trong bối cảnh nguồn cung trong nước chịu áp lực suy giảm và nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng.

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026: Thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế
Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026: Thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026 đề xuất chuyển mạnh sang cơ chế giá thị trường, đồng thời siết điều kiện đối với thương nhân đầu mối và tinh gọn hệ thống phân phối.

Cắt giảm thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phải gắn với hậu kiểm
Cắt giảm thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phải gắn với hậu kiểm

Việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đang được đặt ra nhằm giảm chi phí tuân thủ, tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi các lớp tiền kiểm được thu hẹp, yêu cầu về hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc và chế tài xử lý phải được nâng lên để tránh tạo khoảng trống quản lý, đặc biệt với những sản phẩm tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc