Hơn 70% nhu cầu vốn phải trông vào khu vực tư nhân
Nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng hai con số đang đặt TP Hồ Chí Minh trước bài toán không chỉ thu hút được bao nhiêu tiền, mà quan trọng hơn là dòng vốn đó đến từ đâu, được kết nối với dự án nào và có thể nhanh chóng chuyển thành nguồn lực đầu tư thực tế hay không.
Phát biểu tại phiên thảo luận chuyên đề “Huy động và kết nối dòng vốn quốc tế cho TP.HCM” trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu 2026 sáng 27/10, TS Cấn Văn Lực cho rằng kinh nghiệm quốc tế cho thấy những nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng quanh mức hai con số đều cần quy mô vốn đầu tư rất lớn.
Theo tổng kết từ 5 quốc gia có quy mô tương đồng từng đạt mức tăng trưởng khoảng 10%/năm, tổng vốn đầu tư toàn xã hội thường phải duy trì ở mức 35 - 40% GDP và vốn đầu tư phải tăng khoảng 13 - 15% mỗi năm.
Đối với Việt Nam, vốn từng đóng góp khoảng 45 - 50% cho tăng trưởng GDP trong quá trình phát triển kể từ thời kỳ Đổi mới. Trong giai đoạn tới, dù đóng góp của năng suất tổng hợp các nhân tố sản xuất (TFP) được kỳ vọng cải thiện, quy mô vốn đầu tư vẫn cần duy trì quanh mức 40% GDP và đóng góp khoảng 40 - 42% cho tăng trưởng.
Từ đó, TS Cấn Văn Lực tính toán để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao, từ nay đến năm 2030, Việt Nam cần huy động trung bình khoảng 280 - 300 tỷ USD mỗi năm, tương ứng tốc độ tăng vốn khoảng 14%/năm. Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển trong giai đoạn 2026 - 2030 có thể lên tới gần 1.500 tỷ USD.
Trong cơ cấu này, ngân sách nhà nước chỉ có khả năng đáp ứng khoảng 20 - 22%, đồng nghĩa gần 80% nguồn lực còn lại phải được huy động từ khu vực tư nhân trong nước và quốc tế.
Những tính toán về nhu cầu vốn cũng được TS Cấn Văn Lực nhấn mạnh tại diễn đàn ngày 27/10, trong bối cảnh tín dụng ngân hàng hiện vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cung ứng vốn cho nền kinh tế. Với riêng TP Hồ Chí Minh, quy mô nguồn lực cần huy động được đánh giá rất lớn.
Theo TS Cấn Văn Lực, trung bình mỗi năm thành phố cần khoảng 1,7 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội, tương đương khoảng 22% tổng nhu cầu vốn của cả nước. Trong số này, nguồn vốn ngân sách thành phố thông thường chỉ đáp ứng khoảng 20 - 22%, mức cao nhất cũng khoảng 30%. Như vậy, hơn 70% nhu cầu vốn còn lại phải đến từ khu vực tư nhân.
Đây là một tỷ lệ đáng chú ý khi vốn tư nhân trong nước hiện đóng góp khoảng 50% cho tăng trưởng của TP Hồ Chí Minh, thấp hơn mức bình quân khoảng 55% của cả nước. Ngược lại, FDI đóng góp khoảng 21%, cao hơn mức bình quân 17% trên phạm vi cả nước.
Thực tế, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào TP Hồ Chí Minh đang ghi nhận những tín hiệu tích cực. Trong 7 tháng đầu năm 2026, thành phố thu hút hơn 9,8 tỷ USD FDI, tăng hơn 44% so với cùng kỳ.
Trong 6 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn đạt khoảng 309.769 tỷ đồng, tăng 9,9%. Cùng thời gian này, TP Hồ Chí Minh đã phân bổ toàn bộ 147.599 tỷ đồng vốn đầu tư công năm 2026 theo kế hoạch Thủ tướng giao. Tuy nhiên, quy mô vốn cần thiết trong những năm tới cho thấy chỉ dựa vào ngân sách, đầu tư công hay tín dụng ngân hàng là chưa đủ.
Một vấn đề được TS Cấn Văn Lực chỉ ra là cơ cấu vốn của nền kinh tế hiện còn lệch về hệ thống ngân hàng. Theo ông, tín dụng ngân hàng đang cung cấp khoảng 51% tổng lượng vốn cho nền kinh tế và tỷ trọng này còn có xu hướng tăng. Trong khi đó, thị trường vốn gồm cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp mới đáp ứng khoảng 13 - 14%. Nếu cộng thêm khoảng 10% từ trái phiếu Chính phủ, tỷ trọng vốn huy động qua thị trường vốn mới vào khoảng 23%.
Với nhu cầu đầu tư ngày càng lớn và nhiều dự án hạ tầng có thời gian hoàn vốn kéo dài hàng chục năm, việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn ngân hàng có thể tạo ra sức ép đối với cả hệ thống tài chính lẫn doanh nghiệp.
Nguồn tiết kiệm trong dân cũng không thể được xem là nguồn lực vô hạn. Theo phân tích của TS Cấn Văn Lực, trước năm 2025, tỷ lệ tiết kiệm trong dân tương đương khoảng 35% GDP, cao hơn tỷ lệ đầu tư thực tế khoảng 31% GDP. Tuy nhiên, tỷ lệ tiết kiệm được dự báo thu hẹp còn khoảng 33% GDP trong năm 2026.
Trong khi đó, số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy tiền gửi của dân cư tại hệ thống tổ chức tín dụng đến cuối tháng 6/2026 đã vượt 11,07 triệu tỷ đồng, tăng 7,1% so với cuối năm 2025. Vấn đề nằm ở chỗ nguồn tiền gửi phần lớn có kỳ hạn ngắn, trong khi nhiều dự án hạ tầng đô thị, giao thông, năng lượng cần nguồn vốn dài hạn 10 - 20 năm.
Từ Trung tâm Tài chính quốc tế đến tài chính xanh, tín chỉ carbon
Để mở rộng nguồn lực, TS Cấn Văn Lực đề xuất khai thác nhiều nhóm nguồn vốn khác nhau, từ tài chính quốc tế, FDI, thị trường chứng khoán đến tài sản số, tín chỉ carbon và nguồn lực đang bị “chôn” trong những dự án tồn đọng. Một trong những hướng được đặt nhiều kỳ vọng là Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP Hồ Chí Minh.
Theo TS Cấn Văn Lực, lợi thế này cần được gắn với việc chuẩn hóa danh mục chương trình, dự án cụ thể để dòng vốn có thể đi vào thực tế, thay vì dừng ở các biên bản ghi nhớ. Những điều trên cũng phù hợp với định hướng thu hút đầu tư đang được TP Hồ Chí Minh đặt ra tại Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu 2026.
Tại chương trình CEO 500 ngày 26/10, lãnh đạo thành phố xác định bốn nhóm động lực để thu hút dòng vốn chất lượng cao, gồm hạ tầng và không gian kinh tế mới; tài chính; năng lượng; kinh tế số và công nghệ. Trong đó, Trung tâm Tài chính quốc tế được xác định là một công cụ kết nối nguồn lực tài chính trong nước với thị trường khu vực và toàn cầu.
Quy mô các dự án thành phố muốn kết nối với nhà đầu tư cũng không nhỏ. Theo thông tin công bố trước diễn đàn, TP Hồ Chí Minh dự kiến giới thiệu 12 dự án đầu tư với tổng vốn hơn 13,5 tỷ USD, tập trung vào những lĩnh vực như logistics, năng lượng và hạ tầng.
Diễn đàn năm nay dự kiến quy tụ khoảng 1.500 đại biểu trong nước và quốc tế. Nội dung tập trung vào vai trò của các siêu đô thị, công nghệ đột phá và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, các mô hình hợp tác mới và vai trò của khu vực tư nhân trong tăng trưởng.
Bên cạnh tài chính quốc tế, TS Cấn Văn Lực cho rằng, Việt Nam cần tận dụng cơ hội từ nâng hạng thị trường chứng khoán và cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia để thu hút thêm dòng vốn đầu tư gián tiếp. Tài chính xanh và thị trường tín chỉ carbon cũng được nhìn nhận là những kênh có thể tạo thêm nguồn lực trong quá trình thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0.
Một dư địa khác là tài sản số, tài sản mã hóa. Theo ông Lực, Việt Nam hiện có khoảng 17 - 18 triệu người tham gia đầu tư tài sản số, do đó cần hoàn thiện khung pháp lý để quản lý và từng bước khai thác nguồn lực này phục vụ phát triển trong nước.
Ngoài việc tìm kiếm vốn mới, khơi thông nguồn lực đang bị đình trệ tại các dự án tồn đọng cũng được xem là một giải pháp quan trọng. Yêu cầu này đặc biệt đáng chú ý với TP Hồ Chí Minh bởi thành phố đang cùng lúc cần vốn cho hàng loạt dự án hạ tầng, giao thông, logistics, năng lượng và không gian phát triển mới.
Cùng với đó, TS Cấn Văn Lực đề xuất cơ cấu lại đầu tư công theo hướng cân đối hơn. Hạ tầng giao thông hiện chiếm khoảng 80% vốn đầu tư công của thành phố và vẫn là lĩnh vực cần ưu tiên, nhưng nguồn lực cũng cần được phân bổ hợp lý cho khoa học - công nghệ, y tế, giáo dục và văn hóa. Đầu tư vào những lĩnh vực này không chỉ tạo ra tài sản vật chất mà còn tác động tới chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới sáng tạo và năng suất dài hạn.
Bối cảnh mới sau khi mở rộng không gian phát triển cũng đang tạo thêm cơ hội cho TP Hồ Chí Minh. Thành phố định hướng huy động nguồn lực từ đầu tư công, hợp tác công tư và khu vực tư nhân để chuẩn bị hạ tầng, phát triển các không gian công nghiệp công nghệ cao, công nghệ số và những ngành công nghiệp mới.
Do đó, bài toán 1,7 triệu tỷ đồng vốn mỗi năm không đơn thuần là tìm đủ tiền cho tăng trưởng. Quan trọng hơn là xây dựng được hệ thống dẫn vốn phù hợp với từng loại dự án, kéo thêm nguồn lực dài hạn ngoài ngân hàng và đưa vốn cam kết nhanh chóng đi vào nền kinh tế.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
