Thị trường trái phiếu doanh nghiệp: Cần giảm thiểu rủi ro

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang trở thành trụ đỡ đối với nền kinh tế, giảm thiếu áp lực cung cấp vốn của ngân hàng. Mặc dù vậy, trái phiếu doanh nghiệp vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, cần các cơ quan chức năng tháo gỡ.

Năm 2021, Việt Nam đã chứng kiến kỷ lục chưa từng có của thị trường trái phiếu doanh nghiệp: tổng giá trị phát hành đạt tới 637.000 tỷ, tăng 48% so với năm 2020. Bóc tách theo cơ cấu ngành thì ngành ngân hàng đang dẫn đầu với 228.000 tỷ, chiếm 38% và bám sát nút đằng sau là ngành bất động sản với 207.000 tỷ, chiếm 34%. Đặc biệt, về kỳ hạn, nếu trong năm 2020, kỳ hạn bình quân của trái phiếu doanh nghiệp là 4,6 năm thì năm 2021 đã giảm xuống còn 3,6 năm.

Có thể nói, trái phiếu doanh nghiệp đã trở thành một trong những trụ đỡ - điều mà 5,10 năm trước ít người có thể tưởng tượng được. Điều này đã giúp ngành ngân hàng giảm tải áp lực rất lớn từ việc cung cấp vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, cũng như hai mặt của đồng xu, thị trường này tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nhà đầu tư.

Tiềm ẩn những rủi ro

Ông Nguyễn Hoàng Dương – Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính (Bộ Tài chính) cho biết: các tổ chức tư vấn phát hành, tổ chức phân phối chào mời nhà đầu tư cá nhân và có hiện tượng “lách” để trở thành nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Các tổ chức này vận dụng những điều pháp luật cho phép để “hô biến” những nhà đầu tư chưa phải nhà đầu tư chuyên nghiệp để trở thành những nhà đầu tư chuyên nghiệp, theo quy định của pháp luật và được nhà đầu tư chấp thuận.

Ông Nguyễn Hoàng Dương chỉ ra điểm bất cập: “Các nhà đầu tư cá nhân vẫn là chính họ, chưa thể đánh giá hay lường hết những rủi ro của doanh nghiệp phát hành cũng như trái phiếu họ mua.”

Bên cạnh đó, qua quản lý giám sát thị trường, nhiều trường hợp doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu hạn chế hay những doanh nghiệp có kết quả sản xuất kinh doanh thua lỗ nhưng vẫn huy động được khối lượng lớn trái phiếu. Lại có những doanh nghiệp phát hành trái phiếu nhưng không gắn việc sử dụng vốn với mục đích phát hành, có hiện tượng lưu chuyển vốn lòng vòng giữa các tổ chức phát hành và tổ chức thực chất sử dụng vốn.

Phản hồi ý kiến về việc có thể để một vài vụ vỡ nợ trái phiếu xảy ra, để người dân, nhà đầu tư biết thực chất đấy là rủi ro, đại diện Bộ Tài chính khẳng định, không phải vì trái phiếu doanh nghiệp đổ vỡ hàng loạt mà gây mất an toàn về mặt hệ thống, nhưng điều này gây nguy hiểm khi các khoản vay trái phiếu sẽ liên thông với tín dụng ngân hàng và các tổ chức tài chính khác trong nền kinh tế. Vì vậy, ông Nguyễn Hoàng Dương cho rằng, cần phải hoàn thiện khung khổ pháp lý, một mặt, để tiếp tục phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho doanh nghiệp, mặt khác để giảm thiểu những rủi ro về mặt thị trường, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, đảm bảo an toàn của thị trường.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp: Cần giảm thiểu rủi ro

Bên cạnh đó, theo ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch Hội đồng quản trị FiinGroup, triển vọng kênh trái phiếu doanh nghiệp năm nay không tươi sáng như năm 2021 do phụ thuộc rất lớn vào chính sách và việc sửa đổi Nghị định 153.

“Tôi cho rằng, dù tác động nắn chỉnh chặt hay không, cũng sẽ tác động nhất định đến giá trị phát hành và kênh huy động vốn của doanh nghiệp thông qua trái phiếu trong năm nay và sẽ mất một thời gian để thị trường thích nghi với chính sách mới”, ông Thuân nhận định.

Tháo gỡ khó khăn

Trước những rủi ro trên, ông Nguyễn Hoàng Dương cho biết, Bộ Tài chính hiện đang chỉ đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước làm việc với Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam có những thiết kế tháo gỡ những khó khăn, “khơi thông” về quy trình cũng như thời gian thẩm định việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng, đem lại lợi ích cho nhiều bên.

Theo đó, nhà đầu tư mua trái phiếu sẽ yên tâm hơn, mặc dù rủi ro vẫn do nhà đầu tư chịu hoàn toàn nhưng trái phiếu doanh nghiệp phát hành ra công chúng có “tấm lá chắn” do được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước rà soát và cấp phép trước khi phát hành. Doanh nghiệp cũng có lợi hơn, nhất là với những công ty đại chúng do việc công bố thông tin không phải là một “gánh nặng”.

Bộ Tài chính cũng đang chỉ đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có những giải pháp để phát triển song song các kênh khác để có thể bù đắp kênh trái phiếu doanh nghiệp trong trường hợp có thay đổi về khung pháp lý, như các quỹ đầu tư về trái phiếu, các loại hình quỹ đầu tư, quỹ hưu trí khác.

Bình luận về dự thảo Nghị định 153/2020/NĐ-CP về quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế, ông Thuân cho rằng điểm nổi bật chính là Điều 1.1 (sửa đổi Điều 5.1 Nghị định 153) cấm doanh nghiệp phát hành trái phiếu để góp vốn dưới hình thức góp vốn hoặc mua cổ phần tại doanh nghiệp khác. Ông nhận xét, mấu chốt giải quyết vấn đề minh bạch về mặt thông tin, đặc biệt khi phát hành đến nhà đầu tư cá nhân dưới bất kì hình thức nào, không nên chặn quyền tự do huy động vốn của doanh nghiệp.

"Nhà đầu tư cá nhân biết mà vẫn đầu tư thì phải chấp nhận rủi ro. Xếp hạng tín nhiệm chỉ là một phần nhỏ, câu chuyện là minh bạch. Tất cả các giao dịch liên quan đến công ty mẹ hay con, trực tiếp hay gián tiếp, nhưng liên quan đến ông chủ đều phải minh bạch hết. Tức nhà phát hành phải kê khai ra hết việc dùng trái phiếu vào công ty nào, kể cả "sân sau". Phát hành trái phiếu đầu tư vào công ty liên doanh liên kết, Luật Doanh nghiệp và Chứng khoán đều định nghĩa, cứ thế bám vào." - Ông Nguyễn Quang Thuân nhấn mạnh.

Dự thảo Nghị định 153 cũng đã bổ sung quy định về xếp hạng tín nhiệm đối với một số loại trái phiếu phát hành. Chủ tịch FiinGroup cho hay, kết thúc năm 2021, có tới 964 đợt phát hành trái phiếu từ hơn 300 tổ chức phát hành, tuy nhiên, cả thị trường chỉ có 2 đơn vị xếp hạng tín nhiệm nội địa được cấp phép và đi vào hoạt động.

Tin liên quan
Tin khác
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ

Từ siêu thị, trung tâm thương mại đến chợ truyền thống và các hộ kinh doanh nhỏ, thanh toán không dùng tiền mặt đang từng bước trở thành phương thức giao dịch quen thuộc tại TP Hồ Chí Minh. Cùng với sự chuyển dịch này, các cơ quan quản lý đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy thanh toán số phát triển rộng khắp.

Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị
Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang có thêm cơ hội khi các chuỗi cung ứng toàn cầu mở rộng hiện diện trong nước. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi không chỉ nằm ở khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng mà còn ở mức độ doanh nghiệp Việt có thể đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ công nghệ, vật liệu đến thiết kế và phát triển sản phẩm.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc