Phân cấp mạnh, rút ngắn thủ tục nhập khẩu giống thủy sản
So với trước đây, quy định mới đã thay đổi đáng kể cách thức cấp phép nhập khẩu giống thủy sản, đặc biệt đối với các loài chưa có trong danh mục được phép kinh doanh. Nếu như trước đây, thẩm quyền chủ yếu tập trung ở cơ quan quản lý Trung ương, dẫn đến thời gian xử lý kéo dài và thiếu linh hoạt cho hoạt động nghiên cứu, trưng bày, thì nay đã được phân cấp về địa phương.
Cụ thể, chủ tịch UBND cấp tỉnh được trao thẩm quyền cấp và cấp lại giấy phép nhập khẩu đối với giống thủy sản chưa có tên trong danh mục, phục vụ các mục đích khảo nghiệm, nghiên cứu khoa học, hội chợ, triển lãm. Việc phân cấp này không chỉ giúp giảm tải cho cơ quan Trung ương mà còn tạo điều kiện chủ động hơn cho địa phương trong quản lý và phát triển ngành.
Cùng với đó, quy trình xử lý hồ sơ cũng được rút gọn đáng kể. Thời gian thẩm định và trình quyết định cấp phép được quy định trong vòng 4 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trong khi việc cấp lại giấy phép chỉ còn 2 ngày làm việc. Đây là bước cải cách quan trọng, góp phần giảm chi phí thời gian cho doanh nghiệp và tổ chức liên quan.
Bên cạnh việc tạo thuận lợi, Thông tư cũng bổ sung cơ chế kiểm soát chặt chẽ hơn. Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh có trách nhiệm giám sát quá trình sử dụng giống nhập khẩu; đồng thời, khi phát hiện nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường, chất lượng hoặc an toàn sinh học, chủ tịch UBND cấp tỉnh có thể quyết định kiểm tra hệ thống sản xuất giống tại nước xuất khẩu. Quy định này giúp nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro ngay từ đầu nguồn.
Chuẩn hóa quy định xuất khẩu, tăng minh bạch và kiểm soát
Đối với hoạt động xuất khẩu, Thông tư mới đã khắc phục những hạn chế trước đây khi quy định còn mang tính nguyên tắc và chưa phân định rõ các trường hợp đặc thù.
Lần này, thẩm quyền cấp phép được xác định cụ thể thuộc Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đặc biệt đối với các trường hợp xuất khẩu giống thủy sản thuộc danh mục cấm hoặc có điều kiện nhưng không đáp ứng điều kiện, phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.
Hồ sơ và thủ tục cũng được chuẩn hóa theo hướng rõ ràng, minh bạch hơn, với yêu cầu cụ thể về tài liệu chứng minh mục đích xuất khẩu. Thời gian giải quyết hồ sơ được ấn định là 7 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, thay vì phụ thuộc vào từng trường hợp như trước đây. Đối với trường hợp cấp lại giấy phép, thời hạn xử lý được rút xuống còn 2 ngày làm việc.
Việc quy định cụ thể về thời hạn, điều kiện và trách nhiệm của các cơ quan liên quan không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch trong quản lý mà còn tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thủy sản.
Nhìn tổng thể, Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT thể hiện rõ định hướng cải cách khi kết hợp giữa đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường kiểm soát chất lượng, an toàn sinh học. Những thay đổi này được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh giống thủy sản, đồng thời bảo đảm quản lý chặt chẽ, góp phần phát triển ngành nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững và hội nhập.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
