Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội đã hoàn tất cáo trạng truy tố bị can Vũ Đức Tĩnh (sinh năm 1981, cư trú tại phường Cát Lái, TP. Hồ Chí Minh), cùng Nguyễn Thị Thanh Vân (sinh năm 1992, trú tại xã Phú Hội, tỉnh Lâm Đồng) và 8 bị can khác về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Theo cáo trạng, từ tháng 10/2021 đến tháng 11/2022, Vũ Đức Tĩnh chỉ đạo các cá nhân thành lập pháp nhân công ty, tổ chức các hội thảo, hội nghị, đưa ra thông tin không có thật về các loại hình đầu tư, kêu gọi nhà đầu tư góp vốn, hợp tác đầu tư vào công ty, mua cổ phiếu chưa niêm yết, đồng thời quảng bá, bán các dự án bất động sản chưa được cấp phép.
Cụ thể, Vũ Đức Tĩnh đã chỉ đạo việc thành lập 3 pháp nhân gồm: Công ty cổ phần Tập đoàn Bankland (gọi tắt là Công ty Bankland), Công ty Cawiho và Công ty GBF. Trên thực tế, cả 3 công ty này không hề có hoạt động sản xuất, kinh doanh đúng nghĩa mà vận hành theo mô hình đa cấp biến tướng, sử dụng tiền của người tham gia sau để chi trả lãi cho người tham gia trước.
Dù không đứng tên trong danh sách cổ đông, Vũ Đức Tĩnh vẫn tự xưng là “cố vấn cấp cao” và trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động của ba công ty nói trên.
Sau khi các công ty được thành lập, Tĩnh tiếp tục chỉ đạo các Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo để quảng bá các dự án đầu tư không có thật. Nội dung tuyên truyền bao gồm việc kêu gọi góp vốn, mua cổ phiếu chưa niêm yết, cũng như giới thiệu các dự án bất động sản chưa được cấp phép, trong đó có dự án tại xã Hồng Vân, huyện Thường Tín (cũ), TP Hà Nội.
Để kiểm soát dòng tiền và tài sản thu được từ các nhà đầu tư, Vũ Đức Tĩnh đã bàn bạc với các bị can Nguyễn Thị Thanh Vân, Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Đức Minh nhằm đứng tên và quản lý các tài sản hình thành từ nguồn tiền góp vốn vào Công ty Bankland.
Nhằm mục đích huy động vốn, Công ty Bankland đã soạn thảo các hợp đồng hợp tác đầu tư kinh doanh với nội dung cùng nhà đầu tư tham gia hoạt động kinh doanh để tạo lợi nhuận và phân chia. Các lĩnh vực được đưa ra bao gồm bất động sản, du lịch, tư vấn thiết kế, thi công xây dựng, xuất nhập khẩu, kinh doanh ô tô, sản phẩm công nghệ…
Tuy nhiên, thực tế công ty này không triển khai bất kỳ hoạt động sản xuất hay kinh doanh nào trong các lĩnh vực nêu trên. Bản chất của các hợp đồng chỉ là hình thức huy động vốn không có tài sản đảm bảo, với thời hạn từ 6 đến 72 tháng, lãi suất được trả theo ngày, dao động từ 3% đến 5,1% mỗi tháng (tương đương 36% đến 43,2% mỗi năm).
Ngoài ra, để thu hút người tham gia, các bị can còn thường xuyên tung ra nhiều chương trình ưu đãi, khuyến mại hấp dẫn như cộng thêm lãi suất, tặng vàng, sổ đỏ, ô tô, xe máy SH, điện thoại iPhone, hay các chuyến du lịch… Những phần thưởng này được quảng bá như lợi ích cộng thêm ngoài mức lãi suất đã cam kết.
Trên thực tế, các khoản chi trả lương, thưởng và lãi suất chỉ được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 3/2022 đến tháng 5/2022. Từ tháng 6/2022 đến tháng 10/2022, các khoản thanh toán này không còn được thực hiện theo cam kết ban đầu.
Theo cáo trạng, riêng tại Công ty Bankland, trong khoảng thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 9/2022, các bị can gồm Vũ Đức Tĩnh, Nguyễn Thị Như, Quản Văn Dương, Nguyễn Thị Thanh Vân, Nguyễn Đức Minh và Nguyễn Văn Minh đã chiếm đoạt tổng cộng 479 tỷ đồng của 5.291 bị hại thông qua hình thức huy động vốn lãi suất cao, bán cổ phiếu chưa niêm yết và các dự án không có thật. Nhóm này đã hoàn trả 28 tỷ đồng, còn chiếm đoạt 451 tỷ đồng.
Tại Công ty Cawiho, các bị can Vũ Đức Tĩnh, Tạ Văn Cương, Ninh Đại Dương và Nguyễn Thị Thanh Vân đã chiếm đoạt 88 tỷ đồng của 59 bị hại; đã hoàn trả 45 tỷ đồng, còn lại 42 tỷ đồng chưa được khắc phục.
Đối với Công ty GBF, các bị can Vũ Đức Tĩnh, Vũ Hồng Quân, Kiều Văn Hoạch và Nguyễn Thị Thanh Vân đã chiếm đoạt 4 tỷ đồng của 18 bị hại; đã trả lại 966 triệu đồng, còn chiếm đoạt khoảng 3,3 tỷ đồng.
Cơ quan tố tụng xác định, Vũ Đức Tĩnh là người chủ mưu, trực tiếp chỉ đạo việc thành lập và điều hành hoạt động của cả ba công ty, trong khi Nguyễn Thị Thanh Vân giữ vai trò kế toán trưởng. Hai bị can này được xác định đã cùng các đồng phạm chiếm đoạt tổng số tiền 572 tỷ đồng của 5.368 bị hại; trong đó đã hoàn trả 75 tỷ đồng, còn lại 497 tỷ đồng chưa được khắc phục.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
