Cà phê thế giới giảm mạnh, trong nước phục hồi
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê đồng loạt điều chỉnh giảm sau chuỗi phiên tăng trước đó. Kết thúc phiên giao dịch ngày 14/5, giá robusta kỳ hạn tháng 7/2026 trên sàn London giảm mạnh 73 USD/tấn, xuống còn 3.487 USD/tấn. Hợp đồng kỳ hạn tháng 9/2026 cũng giảm 68 USD/tấn, còn 3.372 USD/tấn.
Trong khi đó, giá arabica trên sàn New York cũng mất hơn 5 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 7/2026 giảm xuống còn 275,7 US cent/pound, còn kỳ hạn tháng 9/2026 lùi về 268,35 US cent/pound.
Theo giới phân tích, nguyên nhân chủ yếu khiến giá cà phê giảm là do chỉ số USD (DXY) tăng lên mức cao nhất trong hai tuần, tạo áp lực lên nhóm hàng hóa nguyên liệu. Bên cạnh đó, nguồn cung mới từ Brazil đang bước vào giai đoạn thu hoạch cũng khiến thị trường lo ngại nguồn cung ngắn hạn sẽ dồi dào hơn.
Hoạt động thu hoạch cà phê robusta conilon tại bang Espírito Santo đang được đẩy nhanh nhờ thời tiết thuận lợi. Đồng thời, lượng arabica tại các vùng Minas Gerais và São Paulo dự kiến sẽ được đưa ra thị trường nhiều hơn trong thời gian tới.
Dù vậy, thị trường vẫn được hỗ trợ phần nào bởi lượng tồn kho cà phê trên sàn ICE duy trì ở mức thấp. Tồn kho robusta đã giảm xuống mức thấp nhất trong 2 năm, còn tồn kho arabica cũng xuống đáy trong khoảng 2,5 tháng gần đây.
Ở chiều ngược lại, thị trường cà phê trong nước sáng 15/5 ghi nhận đà phục hồi khá mạnh sau phiên giảm trước đó. Giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt tăng thêm khoảng 1.000 đồng/kg.
Hiện giá thu mua cà phê nội địa dao động từ 88.300 - 89.000 đồng/kg. Đắk Nông tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất cả nước, khoảng 89.000 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng giao dịch quanh mức 88.900 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng vẫn là khu vực có giá thấp nhất nhưng cũng đã tăng lên khoảng 88.300 đồng/kg.
Hồ tiêu giữ mặt bằng cao, xuất khẩu tăng mạnh
Thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục đi ngang trong phiên giao dịch ngày 15/5. Giá tiêu tại các vùng trồng trọng điểm hiện dao động từ 141.500 - 144.000 đồng/kg.
Đắk Lắk và Đắk Nông vẫn là hai địa phương có mức thu mua cao nhất, duy trì ở ngưỡng 144.000 đồng/kg. Bà Rịa - Vũng Tàu và Đồng Nai giao dịch quanh mức 143.000 đồng/kg, còn Gia Lai tiếp tục là khu vực có giá thấp nhất với khoảng 141.500 đồng/kg.
Theo các doanh nghiệp xuất khẩu, nguồn cung bán ra từ nông dân hiện chưa nhiều do tâm lý chờ giá cao hơn vẫn khá phổ biến. Điều này giúp thị trường duy trì trạng thái ổn định dù giá thế giới có những biến động nhất định.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu Indonesia và Brazil tiếp tục tăng. Giá tiêu đen Indonesia tăng lên 7.050 USD/tấn, trong khi tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tăng lên 6.250 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam giữ ổn định quanh mức 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với tiêu đen và khoảng 9.000 USD/tấn với tiêu trắng.
Đáng chú ý, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam tiếp tục ghi nhận tăng trưởng tích cực. Trong 4 tháng đầu năm 2026, cả nước xuất khẩu khoảng 96,8 nghìn tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch gần 623 triệu USD, tăng hơn 22% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam. Bên cạnh đó, Thái Lan nổi lên là thị trường tăng trưởng mạnh khi lượng nhập khẩu hồ tiêu Việt Nam tăng hơn 130% so với cùng kỳ năm ngoái.
Gạo nguyên liệu tăng nhẹ, lúa tươi ổn định
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa hôm nay nhìn chung ổn định, trong khi một số mặt hàng gạo nguyên liệu tăng nhẹ.
Theo cập nhật từ các địa phương, lúa Hè Thu sớm bắt đầu được đưa ra thị trường nhưng nguồn cung vẫn chưa nhiều. Nông dân tại Đồng Tháp và An Giang tiếp tục giữ giá bán khá vững.
Giá lúa OM 18 và Đài Thơm 8 tươi hiện dao động quanh mức 6.200 - 6.300 đồng/kg. Lúa OM 5451 được giao dịch khoảng 5.600 - 5.700 đồng/kg, còn IR 50404 ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg.
Đối với mặt hàng gạo nguyên liệu, gạo OM 5451 tăng thêm khoảng 300 đồng/kg so với tuần trước, lên mức 9.500 - 9.600 đồng/kg. Gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 cũng tăng nhẹ khoảng 100 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, giá gạo cơ bản đi ngang. Một số dòng gạo chất lượng cao như Nàng Nhen vẫn giữ mức giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg, trong khi gạo Hương Lài và gạo Nhật dao động quanh ngưỡng 22.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức khá cao. Gạo Jasmine được chào bán quanh mức 513 - 517 USD/tấn, còn gạo thơm 5% tấm dao động khoảng 510 - 520 USD/tấn.
Trong khi đó, giá gạo 5% tấm của Thái Lan hiện dao động 396 - 400 USD/tấn, còn gạo cùng loại của Ấn Độ ở mức 345 - 349 USD/tấn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
