Giá cà phê hôm nay
Giá cà phê hôm nay 14/9 tại các tỉnh Tây Nguyên dao động từ 94.700 - 95.300 đồng/kg, tăng 300 - 500 đồng/kg so với cuối tuần trước.
Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất, đạt 95.300 đồng/kg, tăng 300 đồng/kg trong tuần. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng ở mức 95.200 đồng/kg, tăng 500 đồng/kg. Lâm Đồng cũng tăng 500 đồng/kg, lên 94.700 đồng/kg.
Dù giá cà phê trong nước giảm 500 đồng/kg trong phiên cuối tuần, tính chung cả tuần, mặt bằng giá vẫn cao hơn 300 - 500 đồng/kg so với tuần trước.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê Robusta và Arabica diễn biến trái chiều. Tại sàn London, hợp đồng Robusta giao tháng 11/2026 đóng cửa tuần ở mức 3.525 USD/tấn, tăng 2,8%, tương đương 95 USD/tấn so với một tuần trước. Hợp đồng giao tháng 1/2027 tăng 2,7%, tương đương 93 USD/tấn, lên 3.508 USD/tấn.
Ngược lại, Arabica trên sàn New York giảm mạnh. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 3,3%, tương đương 9,9 US cent/pound, xuống 285,7 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2027 giảm 3,5%, còn 277,2 US cent/pound.
Theo Reuters, giá Robusta được hỗ trợ bởi những lo ngại về thời tiết tại Tây Nguyên khi dự báo mưa lớn có thể ảnh hưởng tới vụ mùa sắp tới. Một số nông dân tại các khu vực thấp ở Lâm Đồng có thể bắt đầu thu hái từ tháng tới, nhưng các thương nhân cho rằng nguồn cung vụ mới chỉ được đưa ra thị trường với khối lượng đáng kể từ tháng 11 và tháng 12.
Tại Indonesia, Robusta Sumatra được chào bán với mức cộng khoảng 300 USD/tấn so với hợp đồng London tháng 11, tương đương tuần trước. Một số nguồn hàng khác được chào bán với mức cộng khoảng 200 USD/tấn so với hợp đồng tháng 10. Trong khi đó, nông dân tại Lampung cho biết cây cà phê vẫn phát triển chậm do thiếu mưa.
Ở chiều Arabica, nguồn cung từ Brazil tiếp tục tạo sức ép lên giá. Theo Hiệp hội Các nước xuất khẩu cà phê Brazil (Cecafe), xuất khẩu cà phê của nước này trong tháng 8 đạt 4,155 triệu bao, tăng khoảng 31% so với cùng kỳ và là mức cao kỷ lục đối với tháng 8. Trong đó, xuất khẩu Arabica đạt 2,87 triệu bao, tăng 26%, còn Robusta đạt 953.592 bao, tăng 54%.
Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2025-2026 tăng 4,4%, lên mức kỷ lục 183,6 triệu bao, trong khi tiêu thụ giảm 0,9%, xuống 180,6 triệu bao. Nếu dự báo này thành hiện thực, thị trường có thể dư khoảng 3 triệu bao, lần đầu tiên rơi vào trạng thái dư cung trong 5 năm.
Giá hồ tiêu hôm nay
Giá tiêu hôm nay 14/9 tại các vùng sản xuất trọng điểm dao động từ 137.000 - 141.000 đồng/kg, tăng 2.000 - 4.000 đồng/kg so với cuối tuần trước.
Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu với 141.000 đồng/kg, trong khi Đắk Lắk ở mức 140.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu đạt 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng ở mức 137.000 đồng/kg.
Sau đợt tăng mạnh hồi đầu tuần, thị trường hồ tiêu trong nước những phiên gần đây duy trì tương đối ổn định ở mặt bằng mới. Mốc 140.000 đồng/kg đã xuất hiện tại một số vùng sản xuất lớn, trong khi mức cao nhất đạt 141.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá tiêu đen Indonesia hiện ở mức 6.939 USD/tấn, tăng 3 USD/tấn so với phiên trước và cao hơn 10 USD/tấn so với một tuần trước.
Đáng chú ý, giá tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l cùng được điều chỉnh lên 6.070 - 6.130 USD/tấn, tăng 80 USD/tấn so với cuối tuần trước. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ mức 5.750 USD/tấn, trong khi Malaysia ở mức 9.300 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, Indonesia đạt 9.500 USD/tấn, tăng 13 USD/tấn trong tuần. Giá tiêu trắng Việt Nam tăng lên 8.450 USD/tấn, cao hơn khoảng 0,6% so với tuần trước, còn Malaysia giữ nguyên ở mức 12.200 USD/tấn.
Theo Harris Spice, nguồn cung mới từ Indonesia và Brazil đang được đưa ra thị trường, góp phần duy trì tương đối cân bằng cung - cầu hồ tiêu trong ngắn hạn. Tại Việt Nam, vụ thu hoạch đã kết thúc nhưng nhu cầu mua hàng vẫn tạo lực hỗ trợ cho giá.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu hơn 168.400 tấn hồ tiêu, tăng đáng kể so với khoảng 145.000 tấn cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, vụ thu hoạch tại Indonesia đã bắt đầu ở Lampung và các khu vực lân cận, nhưng quá trình hình thành gié tiêu tại nhiều vùng không thuận lợi, khiến sản lượng năm nay được dự báo có thể giảm nhẹ.
Tại Brazil, hoạt động thu hoạch ở Pará đang thúc đẩy lượng hàng đưa ra thị trường. Tính đến hết tháng 7, Brazil đã xuất khẩu gần 57.000 tấn hồ tiêu, cao hơn mức khoảng 53.100 tấn cùng kỳ năm trước.
Giá lúa gạo hôm nay
Thị trường lúa gạo hôm nay 14/9 tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục bình ổn.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi OM 18 dao động 6.200 - 6.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; OM 5451 khoảng 6.000 - 6.200 đồng/kg; IR 50404 ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg; OM 34 dao động 5.800 - 6.000 đồng/kg.
Đối với gạo nguyên liệu xuất khẩu, CL 555 dao động 8.700 - 8.750 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.650 - 8.700 đồng/kg; OM 5451 đạt 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Giá phụ phẩm dao động 7.450 - 8.400 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm 3-4 ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg, còn cám dao động 7.450 - 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, gạo Nàng Nhen có giá cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg. Jasmine ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; Đài thơm và OM 18 cùng khoảng 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 13.500 - 15.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp cũng không biến động, với nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg và nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đi ngang so với cuối tuần. Gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 445 - 450 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 367 - 371 USD/tấn; Jasmine đạt 534 - 538 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo 5% tấm có giá 478 - 482 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 374 - 378 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm giảm 1 USD/tấn, xuống 370 - 374 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm tăng 2 USD/tấn, lên 306 - 310 USD/tấn. Gạo 5% tấm Pakistan tăng 2 USD/tấn, lên 408 - 412 USD/tấn; gạo 100% tấm giữ ở mức 310 - 314 USD/tấn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương, trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu hơn 6 triệu tấn gạo, trị giá 2,9 tỷ USD, giảm 6,3% về khối lượng và 11,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Philippines tiếp tục là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 43,2% thị phần; tiếp đến là Trung Quốc với 18,4% và Ghana với 11%.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
