Giá hồ tiêu giảm sâu, mất tới 2.500 đồng/kg
Giá hồ tiêu trong nước sáng 14/3 giảm mạnh từ 2.000 – 2.500 đồng/kg so với ngày trước đó, kéo mặt bằng giá xuống còn khoảng 142.000 – 144.000 đồng/kg, mức thấp nhất trong nhiều tháng qua.
Khảo sát tại các vùng trồng tiêu trọng điểm cho thấy giá thu mua đồng loạt điều chỉnh giảm. Tại Đắk Lắk và Đắk Nông, giá tiêu giảm mạnh nhất 2.500 đồng/kg, hiện được thu mua ở mức 144.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa – Vũng Tàu, giá tiêu giảm 2.000 đồng/kg, xuống còn 143.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và Đồng Nai cũng giảm 2.000 đồng/kg, còn khoảng 142.000 đồng/kg, mức thấp nhất trên thị trường hiện nay.
Theo các thương lái tại khu vực Tây Nguyên, sau giai đoạn tăng mạnh trước đó, thị trường hồ tiêu đang bước vào nhịp điều chỉnh khi nhu cầu thu mua từ doanh nghiệp xuất khẩu chững lại. Nhiều doanh nghiệp chỉ thu mua cầm chừng để theo dõi diễn biến của thị trường quốc tế.
Trên thị trường thế giới, dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế cho thấy giá tiêu xuất khẩu có sự điều chỉnh nhẹ. Giá tiêu đen Indonesia giảm 0,18%, tương đương 13 USD/tấn, xuống còn 7.029 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 được chào bán ở mức khoảng 6.100 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia duy trì ở mức 9.100 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu hiện dao động khoảng 6.300 – 6.400 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l. Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia giảm 17 USD/tấn, xuống còn 9.306 USD/tấn, trong khi giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam giữ quanh mức 9.050 USD/tấn.
Theo ông Hoàng Phước Bính, chủ một trang trại hồ tiêu lớn tại Chư Sê (Gia Lai), giá tiêu gần đây liên tục biến động do doanh nghiệp thu mua tỏ ra thận trọng trước những bất ổn của thị trường quốc tế. Trong khi đó, ông Lê Việt Anh, Tổng thư ký Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam, cho biết khu vực Trung Đông chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam, do đó căng thẳng địa chính trị tại khu vực này có thể ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động xuất khẩu.
Hiện nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đang đối mặt với chi phí vận tải gia tăng khi các hãng tàu điều chỉnh phí vận chuyển. Tổng chi phí logistics được cho là cao gấp 3 – 4 lần so với trước đây, trong khi một số hãng tàu tạm thời hạn chế vận chuyển qua các tuyến biển gần Trung Đông do lo ngại rủi ro an ninh.
Giá cà phê phục hồi sau chuỗi giảm sâu
Sau nhiều phiên giảm mạnh, thị trường cà phê trong nước ngày 14/3 ghi nhận tín hiệu phục hồi. Khảo sát tại khu vực Tây Nguyên cho thấy giá cà phê tăng 1.200 – 1.600 đồng/kg so với ngày trước, đưa mặt bằng giá lên khoảng 93.200 – 94.000 đồng/kg.
Cụ thể, tại Đắk Nông, giá cà phê tăng 1.200 đồng/kg lên 94.000 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá tăng khoảng 1.300 đồng/kg, cũng đạt khoảng 94.000 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng ghi nhận mức tăng mạnh nhất, tăng 1.600 đồng/kg, lên 93.200 đồng/kg.
Theo các thương lái, sau giai đoạn giảm sâu trước đó, thị trường đang xuất hiện lực mua trở lại, trong khi nguồn cung chưa tăng đột biến, giúp giá cà phê phục hồi.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê cũng ghi nhận phiên tăng đáng kể. Trên sàn London, giá cà phê robusta giao tháng 5/2026 tăng 72 USD/tấn, lên 3.625 USD/tấn; hợp đồng giao tháng 7/2026 tăng lên 3.527 USD/tấn. Trong khi đó, trên sàn New York, giá cà phê arabica giao tháng 5/2026 tăng lên 291,9 US cent/pound, còn hợp đồng giao tháng 7/2026 đạt 286,45 US cent/pound.
Theo các nhà giao dịch, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông khiến chi phí năng lượng và vận tải biển tăng, qua đó làm tăng chi phí logistics trong chuỗi cung ứng cà phê và hỗ trợ giá trong ngắn hạn.
Tuy vậy, thị trường cà phê vẫn chịu áp lực từ triển vọng nguồn cung toàn cầu. Công ty môi giới StoneX mới đây nâng dự báo sản lượng cà phê Brazil niên vụ 2026 – 2027 lên mức kỷ lục 75,3 triệu bao (loại 60 kg), tăng 20,8% so với niên vụ trước.
Giá lúa gạo ổn định, gạo xuất khẩu đi ngang
Thị trường lúa gạo ngày 14/3 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá nhiều loại gạo nguyên liệu xuất khẩu giữ ổn định.
Cụ thể, gạo nguyên liệu OM 5451 dao động khoảng 8.550 – 8.700 đồng/kg; OM 380 khoảng 7.500 – 7.600 đồng/kg; Đài Thơm 8 khoảng 9.150 – 9.350 đồng/kg; CL 555 khoảng 7.900 – 8.010 đồng/kg; IR 504 khoảng 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 khoảng 8.900 – 9.100 đồng/kg.
Trên thị trường bán lẻ, giá gạo nhìn chung đi ngang. Gạo Nàng Nhen được niêm yết khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài khoảng 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài khoảng 20.000 – 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg; gạo Jasmine khoảng 13.000 – 14.000 đồng/kg.
Đối với lúa tươi, giá lúa OM 18 dao động 6.000 – 6.100 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 khoảng 6.100 – 6.200 đồng/kg; lúa IR 50404 khoảng 5.500 đồng/kg; lúa OM 5451 khoảng 5.800 – 6.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo 5% tấm của Việt Nam dao động khoảng 400 – 415 USD/tấn, gạo 100% tấm khoảng 316 – 320 USD/tấn, còn gạo Jasmine khoảng 430 – 434 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan được chào bán ở mức 381 – 385 USD/tấn, Ấn Độ khoảng 351 – 355 USD/tấn và Pakistan khoảng 362 – 366 USD/tấn.
Giá sầu riêng tiếp tục duy trì ở mức cao
Thị trường sầu riêng ngày 14/3 vẫn duy trì mức giá cao tại nhiều kho thu mua ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Đối với sầu riêng Thái, loại VIP A được thu mua trong khoảng 164.000 – 180.000 đồng/kg tùy chất lượng. Loại B dao động khoảng 140.000 – 150.000 đồng/kg, còn loại C khoảng 68.000 – 85.000 đồng/kg.
Sầu riêng Ri6 loại A được thu mua khoảng 105.000 – 110.000 đồng/kg; loại B khoảng 90.000 đồng/kg; loại C khoảng 60.000 – 65.000 đồng/kg. Ri6 loại thấp hơn như C-D dao động 38.000 – 42.000 đồng/kg.
Một số giống sầu riêng khác như Musang King loại A dao động khoảng 133.000 – 137.000 đồng/kg; loại B khoảng 110.000 – 120.000 đồng/kg. Sầu riêng Chuồng Bò loại A khoảng 90.000 đồng/kg, loại B khoảng 62.000 – 75.000 đồng/kg.
Nhìn chung, thị trường nông sản ngày 14/3 ghi nhận sự phân hóa giữa các mặt hàng. Trong khi hồ tiêu chịu áp lực giảm do tác động từ căng thẳng địa chính trị và chi phí logistics, cà phê đang phục hồi trở lại, còn lúa gạo và sầu riêng duy trì trạng thái ổn định.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
