Cà phê giảm mạnh tại Tây Nguyên, Robusta suy yếu kéo mặt bằng giá đi xuống
Giá cà phê hôm nay (13/4) ghi nhận xu hướng giảm rõ rệt tại khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh thị trường thế giới biến động phân hóa giữa Robusta và Arabica. Theo ghi nhận, mặt bằng giá cà phê trong nước hiện dao động trong khoảng 85.200 – 85.800 đồng/kg, giảm khoảng 3.500 đồng/kg so với tuần trước.
Tại các địa phương trọng điểm, Đắk Nông là nơi có mức giá cao nhất khu vực với 85.800 đồng/kg. Gia Lai và Đắk Lắk cùng ghi nhận mức giá 85.700 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng là địa phương có giá thấp nhất, quanh mức 85.200 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê Robusta trên sàn London ghi nhận mức giảm đáng kể trong tuần qua. Hợp đồng kỳ hạn tháng 5/2026 giảm 3,6%, xuống còn 3.324 USD/tấn, trong khi hợp đồng tháng 7 giảm 3,2%, về mức 3.239 USD/tấn.
Ngược lại, giá cà phê Arabica trên sàn New York lại tăng trưởng tích cực. Hợp đồng tháng 5/2026 tăng 1,6%, đạt 300,1 US cent/pound, còn hợp đồng tháng 7 tăng 2,2%, lên 295,9 US cent/pound.
Áp lực giảm giá trên thị trường cà phê hiện nay đến từ nguồn cung gia tăng tại nhiều quốc gia sản xuất lớn. Brazil, quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, dù ghi nhận xuất khẩu tháng 3 giảm 31% nhưng nguồn cung từ vụ thu hoạch mới đang dần bổ sung ra thị trường.
Trong khi đó, Việt Nam tiếp tục ghi nhận xuất khẩu robusta tăng mạnh trong quý I, đạt khoảng 585.000 tấn, tăng 14% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu lại giảm 5%, cho thấy giá bán đang chịu áp lực đáng kể.
Tại Indonesia, nguồn cung robusta cũng đang được bổ sung từ vụ thu hoạch mới, dù sản lượng có thể bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết không thuận lợi. Bên cạnh đó, nhiều nông dân có xu hướng giữ hàng, hạn chế bán ra khi giá xuống thấp.
Hiện tại, thị trường cà phê toàn cầu đang chịu tác động đan xen từ nhiều yếu tố như nguồn cung, tỷ giá và nhu cầu tiêu thụ. Thời tiết nắng nóng kéo dài cùng chi phí nhiên liệu tăng cao cũng góp phần làm gia tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng đến quyết định bán hàng.
Trong ngắn hạn, giá cà phê, đặc biệt là robusta, có thể tiếp tục chịu áp lực giảm. Tuy nhiên, sự phục hồi của arabica cùng các yếu tố tiền tệ có thể đóng vai trò là lực đỡ, giúp thị trường không rơi vào xu hướng giảm sâu kéo dài.
Hồ tiêu tăng nhẹ, dao động quanh ngưỡng 138.500 – 139.500 đồng/kg
Giá hồ tiêu trong nước hôm nay tiếp tục duy trì xu hướng tăng nhẹ tại nhiều địa phương, với mức tăng khoảng 500 đồng/kg so với tuần trước. Hiện giá tiêu nội địa dao động trong khoảng 138.500 – 139.500 đồng/kg.
Đắk Lắk tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất, đạt 139.500 đồng/kg. Đắk Nông giữ mức 139.000 đồng/kg. Các khu vực Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) cùng ghi nhận mức 138.500 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng thêm khoảng 100 USD/tấn, lên mức 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l. Ngược lại, giá tiêu đen Indonesia giảm nhẹ xuống 7.074 USD/tấn, trong khi Brazil và Malaysia giữ nguyên lần lượt ở mức 6.150 USD/tấn và 9.300 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, xu hướng cũng có sự phân hóa. Giá tiêu trắng Việt Nam tăng lên 9.000 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Indonesia giảm nhẹ còn 9.320 USD/tấn và Malaysia tiếp tục duy trì mức 12.200 USD/tấn.
Thị trường gạo ổn định, giao dịch trầm lắng tại Đồng bằng sông Cửu Long
Giá lúa gạo hôm nay (13/4) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục ghi nhận trạng thái ổn định, ít biến động so với các phiên trước. Giao dịch mua bán nhìn chung chậm, thị trường duy trì trạng thái trầm lắng.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá các loại gạo phổ biến không ghi nhận biến động. Gạo Nàng Nhen giữ mức cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg. Các loại gạo thơm như Hương Lài, Jasmine, Nàng Hoa, Đài Loan và gạo thơm Thái duy trì dao động trong khoảng 20.000 – 22.000 đồng/kg hoặc thấp hơn tùy chủng loại. Gạo thường phổ biến ở mức 13.000 – 17.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định với gạo thơm 5% tấm trong khoảng 440 – 445 USD/tấn, gạo 100% tấm từ 333 – 337 USD/tấn và gạo Jasmine từ 452 – 456 USD/tấn. Thị trường quốc tế cũng không ghi nhận biến động đáng kể, khi giá gạo Thái Lan và Ấn Độ tiếp tục đi ngang trong tuần.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
