Giá hồ tiêu giảm nhẹ, nông dân bước vào cao điểm thu hoạch
Theo ghi nhận sáng 12/3, giá hồ tiêu trong nước dao động trong khoảng 144.000 – 146.500 đồng/kg, giảm nhẹ tại một số địa phương so với hôm trước.
Cụ thể, Gia Lai và Đồng Nai cùng giảm 500 đồng/kg, đưa giá thu mua tiêu đen xuống còn 144.000 đồng/kg, thấp nhất trên thị trường. Trong khi đó, giá tiêu tại Đắk Lắk và Đắk Nông vẫn duy trì ổn định ở mức 146.500 đồng/kg. Tại Bà Rịa – Vũng Tàu, giá tiêu giữ nguyên ở mức 145.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen xuất khẩu của Indonesia tăng nhẹ 5 USD/tấn lên mức 7.042 USD/tấn. Ngược lại, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam giảm khoảng 100 USD/tấn, hiện dao động trong khoảng 6.300 – 6.400 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
Tại Brazil, giá tiêu đen Brazil ASTA 570 vẫn ổn định ở mức 6.100 USD/tấn, trong khi giá tiêu đen Malaysia đạt 9.100 USD/tấn. Đối với tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 6 USD/tấn lên 9.323 USD/tấn, trong khi tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam giảm 100 USD/tấn xuống còn khoảng 9.050 USD/tấn. Riêng tại Malaysia, giá tiêu trắng vẫn giữ ở mức 12.100 USD/tấn.
Ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, nhiều vùng chuyên canh hồ tiêu đã bước vào cao điểm thu hoạch. Tại một số địa phương như Hòa Hiệp, Hòa Hội, Bàu Lâm, Bình Giã, Châu Đức và Kim Long, nông dân đang khẩn trương thu hái khi tiêu chín rộ trên cây. Do trái tiêu chín rất dễ rụng nên nhiều hộ dân đã chủ động trải lưới trong vườn để thuận tiện thu gom, giảm thất thoát sản lượng và tiết kiệm công lao động.
Nhiều hộ trồng tiêu cho biết dù sản lượng tại một số khu vực giảm do thời tiết nhưng nhờ giá tiêu duy trì ở mức cao nên người trồng vẫn đảm bảo lợi nhuận. Đây cũng là động lực để nông dân tiếp tục đầu tư chăm sóc vườn tiêu và hướng đến sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, hữu cơ, đồng thời tăng cường liên kết với doanh nghiệp để ổn định đầu ra.
Giá cà phê trong nước giảm theo xu hướng thị trường thế giới
Giá cà phê trong nước hôm nay tiếp tục giảm từ 800 – 1.000 đồng/kg so với hôm trước, hiện dao động trong khoảng 95.300 – 95.800 đồng/kg tại các tỉnh Tây Nguyên.
Cụ thể, Lâm Đồng ghi nhận mức giảm mạnh nhất khi mất 1.000 đồng/kg, đưa giá thu mua xuống còn 95.300 đồng/kg, thấp nhất khu vực. Riêng khu vực Đắk Nông giảm 900 đồng/kg xuống còn 95.800 đồng/kg, tuy nhiên vẫn là địa phương có mức giá cao nhất. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng giảm 800 đồng/kg, phổ biến quanh mức 95.700 đồng/kg.
Theo các thương lái, sau giai đoạn tăng mạnh trước đó, thị trường cà phê trong nước đang bước vào nhịp điều chỉnh khi nguồn cung từ vụ thu hoạch mới vẫn tiếp tục được đưa ra thị trường, đồng thời chịu tác động từ diễn biến giá quốc tế.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê đồng loạt giảm trên cả hai sàn giao dịch lớn. Kết thúc phiên giao dịch ngày 11/3, cà phê robusta giao kỳ hạn tháng 5/2026 trên sàn London giảm 3,75% xuống còn 3.553 USD/tấn, trong khi hợp đồng tháng 7/2026 giảm còn 3.466 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê arabica giao kỳ hạn tháng 5/2026 giảm 2,83% xuống 287,4 US cent/pound, còn hợp đồng tháng 7/2026 giảm xuống 282,2 US cent/pound.
Theo các chuyên gia thị trường, giá cà phê arabica đang chịu áp lực lớn từ triển vọng vụ mùa bội thu tại Brazil. Những cơn mưa gần đây đã cải thiện đáng kể điều kiện sinh trưởng tại các vùng trồng cà phê của nước này, qua đó làm gia tăng kỳ vọng về nguồn cung dồi dào trong thời gian tới.
Ngoài ra, lượng tồn kho cà phê trên các sàn giao dịch quốc tế cũng tăng lên mức cao trong nhiều tháng. Tồn kho arabica trên sàn ICE đã đạt hơn 564.000 bao – mức cao nhất trong 5 tháng, trong khi tồn kho robusta cũng đạt mức cao nhất trong khoảng 3,5 tháng gần đây.
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ổn định
Giá lúa gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động, thị trường giao dịch tương đối ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu OM 5451 hôm nay tăng nhẹ khoảng 100 đồng/kg, dao động trong khoảng 8.550 – 8.700 đồng/kg. Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.150 – 9.350 đồng/kg, trong khi gạo nguyên liệu IR 504 khoảng 8.000 – 8.100 đồng/kg. Gạo OM 18 dao động trong khoảng 8.900 – 9.100 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, giá gạo các loại tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen hiện có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài khoảng 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 – 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg; gạo Jasmine dao động 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 hiện dao động 6.000 – 6.100 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 ở mức 6.100 – 6.200 đồng/kg; lúa OM 5451 khoảng 5.800 – 6.000 đồng/kg; lúa IR 50404 khoảng 5.500 đồng/kg; lúa OM 34 dao động 5.200 – 5.400 đồng/kg.
Tại nhiều địa phương như An Giang và Cần Thơ, giao dịch mua bán lúa Đài Thơm 8 và OM18 khá khởi sắc khi các doanh nghiệp và kho thu mua tăng cường đặt cọc để phục vụ xuất khẩu sang thị trường Philippines. Trong khi đó, tại một số tỉnh như Đồng Tháp, Cà Mau và Vĩnh Long, hoạt động giao dịch vẫn còn chậm, giá lúa nhìn chung giữ ổn định.
Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức khá. Hiện gạo 5% tấm dao động trong khoảng 400 – 415 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 316 – 320 USD/tấn, còn gạo Jasmine khoảng 430 – 434 USD/tấn.
Giá sầu riêng tiếp tục duy trì ở mức cao
Giá sầu riêng hôm nay tại các vùng thu mua vẫn duy trì ở mức cao. Trong đó, sầu riêng Thái VIP loại A tiếp tục dẫn đầu thị trường với mức giá dao động từ 168.000 – 175.000 đồng/kg tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang, Cai Lậy và Đồng Tháp.
Đối với sầu riêng Thái loại B, giá thu mua dao động khoảng 140.000 – 150.000 đồng/kg, trong khi loại C dao động 68.000 – 85.000 đồng/kg. Sầu Thái mẫu thường loại A ở mức 162.000 – 165.000 đồng/kg, còn hàng dạt khoảng 65.000 đồng/kg.
Với giống sầu riêng Ri6, loại A hiện được thu mua trong khoảng 102.000 – 110.000 đồng/kg, loại B dao động 85.000 – 95.000 đồng/kg, còn loại C khoảng 60.000 – 65.000 đồng/kg. Ri6 loại thấp hơn hoặc hàng kem có giá từ 17.000 – 42.000 đồng/kg tùy chất lượng.
Một số giống sầu riêng khác cũng giữ giá ổn định. Musang King loại A dao động 132.000 – 137.000 đồng/kg, loại B khoảng 110.000 – 120.000 đồng/kg. Trong khi đó, sầu riêng Chuồng Bò loại A dao động 88.000 – 92.000 đồng/kg, còn loại B khoảng 62.000 – 75.000 đồng/kg.
Nhìn chung, mặt bằng giá sầu riêng vẫn duy trì ở mức cao nhờ nhu cầu thu mua phục vụ xuất khẩu, đặc biệt là các loại sầu riêng chất lượng cao.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
