Giá vàng trong nước giảm mạnh, thế giới tăng nhẹ
Trên thị trường vàng trong nước, giá vàng miếng tiếp tục điều chỉnh giảm tại hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh lớn. Các thương hiệu SJC, DOJI, PNJ và Bảo Tín Mạnh Hải đồng loạt niêm yết giá vàng miếng ở mức 154,5 - 157,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều so với phiên trước.
Tại Phú Quý, giá vàng miếng được giao dịch ở mức 154,2 - 157,5 triệu đồng/lượng, giảm 800.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 1 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra.
Phân khúc vàng nhẫn cũng ghi nhận xu hướng giảm tương tự. Giá vàng nhẫn tại SJC, DOJI và PNJ lùi về mức 154,3 - 157,5 triệu đồng/lượng, giảm 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch. Trong khi đó, Phú Quý niêm yết vàng nhẫn ở mức 154,2 - 157,2 triệu đồng/lượng, giảm 800.000 đồng/lượng.
Trái ngược với diễn biến trong nước, giá vàng thế giới tăng lên mức 4.492 USD/ounce, cao hơn 15 USD/ounce so với cùng thời điểm ngày trước. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank (chưa bao gồm thuế, phí), giá vàng thế giới tương đương khoảng 143 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng miếng trong nước khoảng 14,5 triệu đồng/lượng.
Theo ông Fawad Razaqzada, chuyên gia phân tích thị trường tại Forex.com, triển vọng ngắn hạn của vàng hiện phụ thuộc nhiều vào diễn biến giá dầu, lợi suất trái phiếu và đồng USD. Ông nhận định thị trường vẫn thiếu động lực đủ mạnh để dòng tiền quay trở lại với vàng và nhà đầu tư đang chờ đợi các tín hiệu rõ ràng hơn từ tình hình Trung Đông cũng như các dữ liệu kinh tế quan trọng của Mỹ.
Giá bạc phục hồi trở lại
Thị trường bạc ghi nhận diễn biến tích cực hơn khi giá bạc thế giới tăng trở lại. Tính đến tối 2/6 theo giờ Việt Nam, giá bạc giao ngay dao động ở mức 75,66 - 75,91 USD/ounce, tăng 0,92 USD/ounce, tương đương 1,23% so với thời điểm mở cửa.
Theo Trading Economics, giá bạc tăng trong bối cảnh giá dầu hạ nhiệt, giúp giảm bớt lo ngại về lạm phát. Tuy nhiên, thị trường vẫn theo dõi chặt chẽ các diễn biến liên quan đến đàm phán giữa Mỹ và Iran cũng như triển vọng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Tại thị trường trong nước, giá bạc ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các doanh nghiệp. Tại Sacombank - SBJ, giá bạc miếng Kim Phúc Lộc loại 1 lượng được niêm yết ở mức 2,889 - 2,979 triệu đồng/lượng, tăng 48.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán. Giá bạc thỏi loại 1 kg tăng lên mức 77,04 - 79,44 triệu đồng/kg.
Trong khi đó, Công ty CP Kim loại quý Ancarat điều chỉnh giá bạc miếng lên 2,875 - 2,964 triệu đồng/lượng và bạc thỏi lên 76,666 - 79,039 triệu đồng/kg.
Ngược lại, giá bạc tại Phú Quý giảm nhẹ. Bạc miếng 1 lượng được giao dịch ở mức 2,866 - 2,955 triệu đồng/lượng, giảm 1.000 đồng/lượng ở cả hai chiều. Giá bạc thỏi loại 1 kg giảm về mức 76,427 - 78,8 triệu đồng/kg.
Theo dữ liệu từ Viện Bạc, nhu cầu công nghiệp dự kiến sẽ chiếm khoảng 55% tổng nhu cầu tiêu thụ bạc toàn cầu trong giai đoạn 2025 - 2026, với động lực chính đến từ các lĩnh vực năng lượng tái tạo, xe điện, điện tử và thiết bị y tế.
Giá thép tăng nhẹ, quặng sắt tiếp tục suy yếu
Ở nhóm kim loại công nghiệp, giá thép trên thị trường quốc tế ghi nhận mức tăng nhẹ trong phiên giao dịch gần nhất. Trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE), giá thép thanh giao tháng 7/2026 tăng 20 Nhân dân tệ, tương đương 0,63%, lên 3.189 Nhân dân tệ/tấn.
Trong khi đó, giá quặng sắt giao tháng 7/2026 trên Sàn Đại Liên (DCE) giảm 3 Nhân dân tệ, tương ứng 0,38%, xuống còn 793 Nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Singapore, giá quặng sắt cùng kỳ hạn tăng nhẹ 0,25 USD lên 104,65 USD/tấn.
Theo Reuters, thị trường quặng sắt tiếp tục chịu áp lực do nguồn cung toàn cầu duy trì ở mức cao. Lượng xuất khẩu quặng sắt từ Australia và Brazil đang ở vùng cao nhất trong gần hai năm, trong khi tồn kho tại các cảng Trung Quốc vẫn ở mức lớn.
Ở chiều cầu, nhu cầu tiêu thụ chưa có nhiều cải thiện khi tỷ lệ vận hành lò cao tại Trung Quốc gần như đi ngang. Tỷ lệ các nhà máy thép có lãi giảm xuống còn 62,3%, phản ánh biên lợi nhuận của ngành đang bị thu hẹp.
Tuy nhiên, thị trường vẫn theo dõi một số rủi ro có thể ảnh hưởng đến nguồn cung như vụ tai nạn tại mỏ than luyện kim ở tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc) và nguy cơ đình công tại cảng xuất khẩu quặng sắt Port Hedland của Australia.
Tại thị trường trong nước, giá thép xây dựng tiếp tục ổn định. Hòa Phát duy trì giá thép CB240 và D10 CB300 ở mức 15.430 đồng/kg. Thép Việt Ý giữ giá CB240 ở mức 15.150 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.700 đồng/kg. Thép Việt Đức niêm yết CB240 ở mức 15.250 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 15.050 đồng/kg.
Bên cạnh diễn biến giá cả, thị trường thép toàn cầu còn chú ý đến sự gia tăng mạnh của thép Trung Quốc xuất khẩu sang Ấn Độ. Theo số liệu sơ bộ của Chính phủ Ấn Độ được Reuters dẫn lại, Trung Quốc đã xuất khẩu khoảng 232.000 tấn thép thành phẩm sang Ấn Độ trong tháng 4, trở thành nhà cung cấp thép lớn nhất cho quốc gia Nam Á này.
Đáng chú ý, diễn biến trên xảy ra dù Ấn Độ đã áp thuế nhập khẩu đối với một số sản phẩm thép kể từ tháng 12 nhằm hạn chế thép giá rẻ từ nước ngoài.
Ông Tarun Khulbe, Giám đốc điều hành Jindal Stainless, cho rằng lượng thép không gỉ giá rẻ từ Trung Quốc đang tạo áp lực lớn đối với ngành sản xuất trong nước. Theo ông, một phần hàng hóa được chuyển tuyến qua các quốc gia ASEAN, trong đó có Việt Nam.
Số liệu cũng cho thấy Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia xuất khẩu thép thành phẩm lớn nhất vào Ấn Độ trong tháng 4, với khối lượng xuất khẩu tăng hơn 4 lần so với cùng kỳ, đạt khoảng 59.000 tấn.
Các doanh nghiệp thép Ấn Độ cho biết nhu cầu thép trong nước vẫn tăng trưởng tích cực nhờ sự mở rộng của các dự án hạ tầng và ngành sản xuất ô tô. Trong tháng 4, tiêu thụ thép thành phẩm của nước này đạt khoảng 13 triệu tấn, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
