Giá vàng: Tăng mạnh ở cả trong nước và thế giới
Tại thị trường trong nước, giá vàng miếng SJC đồng loạt tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Các thương hiệu như SJC, DOJI, PNJ, Phú Quý, Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải cùng niêm yết giá ở mức 169,8 – 172,8 triệu đồng/lượng, tăng 1,2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên trước. Mức chênh lệch mua – bán phổ biến duy trì khoảng 3 triệu đồng/lượng.
Riêng Công ty Mi Hồng niêm yết giá vàng miếng SJC ở mức 170,8 – 172,8 triệu đồng/lượng, với biên độ chênh lệch thấp hơn, khoảng 2 triệu đồng/lượng.
Không chỉ vàng miếng, thị trường vàng nhẫn cũng ghi nhận đà tăng tương tự. Vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng của DOJI giao dịch ở mức 169,8 – 172,8 triệu đồng/lượng, tăng 1,2 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn SJC loại 1–5 chỉ được niêm yết ở mức 169,6 – 172,6 triệu đồng/lượng, tăng 1 triệu đồng/lượng. Các thương hiệu khác cũng điều chỉnh tăng tương ứng, đưa mặt bằng giá vàng nhẫn lên ngang với vàng miếng.
Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay tăng so với phiên trước, niêm yết quanh ngưỡng 4.495 USD/ounce, tương đương khoảng 143,3 triệu đồng/lượng quy đổi theo tỷ giá Vietcombank (chưa bao gồm thuế, phí).
Tuy nhiên, nếu tính trong vòng 30 ngày qua, giá vàng thế giới vẫn giảm khoảng 690 USD/ounce, tương đương mức giảm 13,31%. Hiện giá vàng trong nước vẫn cao hơn thế giới khoảng 29,5 triệu đồng/lượng.
Các chuyên gia quốc tế có quan điểm khá thận trọng nhưng nghiêng về xu hướng tích cực trong trung và dài hạn. Khảo sát của Kitco News cho thấy một nửa chuyên gia Phố Wall dự báo giá vàng sẽ tăng, trong khi nhà đầu tư cá nhân cũng duy trì tâm lý lạc quan nhẹ. Nhiều nhận định cho rằng vàng đang dần tìm lại đà tăng sau giai đoạn điều chỉnh, đặc biệt trong bối cảnh rủi ro địa chính trị và biến động vĩ mô vẫn hiện hữu.
Giá bạc: Tiếp tục chịu áp lực giảm
Trái ngược với vàng, giá bạc hôm nay tiếp tục xu hướng đi xuống trên cả thị trường trong nước và thế giới. Tại Hà Nội, bạc 99.9 phổ biến ở mức khoảng 2.257.000 – 2.287.000 đồng/lượng, trong khi bạc 99.99 dao động quanh 2.265.000 – 2.295.000 đồng/lượng. Tại TP.HCM, mặt bằng giá tương đương, cho thấy xu hướng giảm diễn ra đồng pha giữa các khu vực.
Trên thị trường quốc tế, giá bạc quy đổi hiện ở mức khoảng 1,83 triệu đồng/ounce, tương đương khoảng 2,21 – 2,22 triệu đồng/lượng.
Áp lực giảm chủ yếu đến từ chính sách tiền tệ thắt chặt tại Mỹ khi lãi suất duy trì ở mức cao, khiến dòng tiền chuyển hướng sang các tài sản sinh lời tốt hơn. Đồng USD mạnh lên cũng tạo thêm sức ép đối với kim loại quý này, khi bạc thường biến động ngược chiều với đồng bạc xanh.
Giới phân tích cho rằng, dù bạc từng có nhịp phục hồi, nhưng vẫn gặp khó khăn khi tiến gần các vùng kháng cự quan trọng. Trong bối cảnh các yếu tố vĩ mô chưa thực sự thuận lợi, giá bạc nhiều khả năng sẽ tiếp tục dao động trong biên độ hẹp hoặc giảm nhẹ trong ngắn hạn.
Giá thép: Điều chỉnh nhẹ, thị trường trong nước ổn định
Đối với thị trường thép, giá thép và quặng sắt điều chỉnh giảm nhẹ sau khi lo ngại về gián đoạn nguồn cung suy giảm. Nguyên nhân chính là cơn bão Narelle không gây thiệt hại đáng kể đến hệ thống cảng tại Tây Australia, giúp thị trường ổn định tâm lý.
Trên các sàn giao dịch quốc tế, giá thép thanh kỳ hạn giảm nhẹ, trong khi giá quặng sắt biến động trái chiều giữa các sàn. Dù có những phiên điều chỉnh, tính chung cả tuần, giá quặng sắt vẫn ghi nhận mức tăng nhẹ, cho thấy thị trường vẫn có lực đỡ nhất định từ nhu cầu.
Trong nước, giá thép xây dựng tiếp tục được các doanh nghiệp duy trì ổn định. Hòa Phát niêm yết giá thép CB240 ở mức 14.920 đồng/kg và thép D10 CB300 ở mức 15.020 đồng/kg. Các thương hiệu khác như Thép Việt Ý, Thép Việt Đức hay Thép Miền Nam cũng giữ giá ổn định, phản ánh xu hướng bình ổn của thị trường nội địa.
Nhìn chung, thị trường kim loại đang chịu tác động đan xen từ nhiều yếu tố vĩ mô. Trong khi vàng được hỗ trợ bởi kỳ vọng dài hạn và yếu tố trú ẩn, bạc chịu áp lực từ lãi suất và đồng USD, còn thép và quặng sắt phản ứng theo diễn biến cung – cầu và thông tin về nguồn cung toàn cầu.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
