Vàng miếng trong nước giảm giá mạnh
Mở cửa phiên giao dịch rạng sáng ngày 15/7, giá vàng miếng trong nước đồng loạt lao dốc mạnh từ 900.000 đến 1.000.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra tại hầu hết các thương hiệu lớn. Cụ thể, các đơn vị SJC, PNJ, DOJI và Bảo Tín Mạnh Hải đồng loạt điều chỉnh giảm 900.000 đồng/lượng cho cả hai chiều, đưa mức giá mua vào về còn 144,5 triệu đồng/lượng và bán ra ở ngưỡng 147,5 triệu đồng/lượng.
Riêng thương hiệu Phú Quý SJC ghi nhận mức giảm sâu nhất lên đến 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, lùi về mốc 144 triệu đồng/lượng, trong khi chiều bán ra cũng giảm 900.000 đồng/lượng xuống mức 147,5 triệu đồng/lượng.
Trái ngược với xu hướng đi xuống của vàng miếng, phân khúc vàng nhẫn trong nước lại chứng kiến sự điều chỉnh tăng - giảm không đồng nhất. Biên độ biến động ghi nhận mức tăng cao nhất lên tới 1,5 triệu đồng/lượng và mức giảm sâu nhất đạt 900.000 đồng/lượng, đẩy giá bán ra cao nhất chạm mốc 147 triệu đồng/lượng.
Cụ thể, nhẫn SJC quay đầu giảm mạnh 900.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, giao dịch tại 143,5 triệu đồng/lượng mua vào và 147 triệu đồng/lượng bán ra. Nhẫn Phú Quý SJC cũng giảm nhẹ hơn với 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, lùi về mức 143 triệu đồng/lượng mua vào và 146,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Cùng lúc đó, nhẫn DOJI giữ nguyên chiều mua ở mức 143 triệu đồng/lượng nhưng giảm 300.000 đồng/lượng ở chiều bán xuống còn 146,5 triệu đồng/lượng.
Ở chiều ngược lại, nhẫn PNJ tăng nhẹ 300.000 đồng/lượng mua vào và 100.000 đồng/lượng bán ra, lần lượt niêm yết ở ngưỡng 143,5 triệu đồng/lượng và 147 triệu đồng/lượng. Đáng chú ý nhất, nhẫn Bảo Tín Mạnh Hải bất ngờ tăng mạnh tới 1,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, cán mốc 142 triệu đồng/lượng trong khi chiều bán ra đạt 143,5 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay niêm yết quanh ngưỡng 4.053,8 USD/ounce, tương đương khoảng 129,7 triệu đồng/lượng quy đổi theo tỷ giá Vietcombank và chưa bao gồm thuế, phí. Dù tính chung trong vòng 30 ngày qua thế giới đã giảm tới 272,9 USD/ounce, tương đương giảm khoảng 6,31%, giúp kéo giãn khoảng cách thấp hơn vàng trong nước khoảng 17,8 triệu đồng/lượng, nhưng kim loại quý này đang có dấu hiệu phục hồi mạnh trước giờ mở cửa thị trường Bắc Mỹ.
Lực đỡ chính đến từ việc chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 của Mỹ giảm 0,4% so với tháng trước, đánh dấu mức giảm tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020 và kéo lạm phát năm xuống mức 3,5%. Dữ liệu này làm tiêu tan bớt lo ngại lạm phát và hạ thấp kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sẽ tiếp tục tăng lãi suất, đẩy đồng USD và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm rút khỏi mức đỉnh. Bên cạnh đó, căng thẳng quân sự và rủi ro hàng hải cao tại eo biển Hormuz giữa Mỹ và Iran dù đẩy giá dầu tăng nhưng cũng đồng thời kích hoạt dòng tiền trú ẩn an toàn quay trở lại với vàng.
Thị trường bạc phục hồi nhẹ sau áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu
Cùng chung xu hướng phục hồi của nhóm kim loại quý, giá bạc hôm nay ghi nhận mức tăng nhẹ trở lại sau khi đã lao dốc gần 3% trong tuần qua do áp lực từ đồng USD mạnh và lợi suất trái phiếu đi lên. Tại khu vực Hà Nội, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý niêm yết giá bạc ở mức 2.195.000 đồng/lượng mua vào và 2.263.000 đồng/lượng bán ra. Cùng thời điểm, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI đưa ra mức niêm yết tương đương ở chiều bán ra với 2.263.000 đồng/lượng nhưng có mức mua vào thấp hơn một chút tại 2.190.000 đồng/lượng.
Tại các địa điểm giao dịch nhỏ lẻ khác ở thủ đô, giá bạc được khảo sát thấp hơn khi dao động quanh ngưỡng 1.939.000 đồng/lượng mua vào và 1.972.000 đồng/lượng bán ra.
Đối với thị trường phía Nam, giá bạc tại TP. Hồ Chí Minh dịch chuyển theo xu hướng đi lên vững chắc và hiện được các đơn vị kinh doanh niêm yết giao dịch phổ biến ở mức 1.940.000 đồng/lượng đối với chiều mua vào và 1.985.000 đồng/lượng đối với chiều bán ra. Trên thị trường thế giới, giá bạc giao dịch trên sàn quốc tế hiện niêm yết ở ngưỡng 57,64 USD/ounce. Quy đổi tương đương theo giao dịch nội địa, giá bạc thế giới đang nằm ở mức 1.560.000 đồng/ounce mua vào và 1.565.000 đồng/ounce bán ra.
Mặc dù ghi nhận sự phục hồi nhẹ trong phiên hôm nay, mặt hàng bạc nhìn chung vẫn đang chịu áp lực tâm lý tương đối lớn khi giới đầu tư toàn cầu có xu hướng thận trọng, chờ đợi thêm các tín hiệu rõ ràng từ các dữ liệu kinh tế vĩ mô quan trọng tiếp theo của Mỹ.
Thị trường thép thế giới chạm đáy
Thị trường thép toàn cầu tiếp tục chịu áp lực suy yếu rõ rệt khi các sàn giao dịch lớn của Trung Quốc và Singapore đồng loạt nhuốm đỏ. Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá thép thanh giao tháng 8/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải tiếp tục giảm thêm 9 nhân dân tệ, tương đương giảm 0,29%, rơi xuống dưới mức 3.060 nhân dân tệ/tấn và chốt ở mức 3.049 nhân dân tệ/tấn. Đây là vùng giá thấp nhất trong nhiều tháng qua của thị trường Trung Quốc, đẩy hàng loạt nhà máy thép vào tình trạng thua lỗ nặng nề do chi phí than luyện cốc đầu vào neo cao trong khi giá thép thành phẩm đầu ra quá thấp.
Tương tự, trên Sàn Giao dịch Đại Liên, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 8 cũng mất 2 nhân dân tệ, tương đương 0,27%, xuống còn 750 nhân dân tệ/tấn. Tại Sàn Giao dịch Singapore, giá quặng sắt cùng kỳ hạn sụt giảm mạnh hơn khi mất 0,93 USD, tương ứng giảm 0,94%, lùi về mức 98,35 USD/tấn.
Trước tình hình này, thị trường đang kỳ vọng các doanh nghiệp thép quốc tế sẽ buộc phải cắt giảm sản lượng hoặc tiến hành bảo dưỡng định kỳ để thu hẹp nguồn cung ngắn hạn nhằm cải thiện biên lợi nhuận. Mặc dù công ty thép hàng đầu Baosteel đã chủ động nâng giá bán trong nước thêm 50 nhân dân tệ/tấn đối với các sản phẩm thép dẹt giao tháng 8 nhằm đối phó chi phí nguyên liệu, giới phân tích đánh giá nhu cầu thực tế từ các ngành tiêuthu chủ lực vẫn đang ở mức thấp do chịu ảnh hưởng tiêu cực của yếu tố thời tiết. Để tăng cường năng lực quản trị rủi ro dài hạn, Trung Quốc cũng vừa chính thức thành lập Công ty Đầu tư Quốc tế Guangyan nhằm đẩy mạnh đầu tư và kiểm soát nguồn tài nguyên khoáng sản ở nước ngoài.
Trái ngược với những biến động liên tục lao dốc của thị trường thế giới, giá thép xây dựng trong nước hôm nay tiếp tục duy trì trạng thái ổn định vững chắc khi các doanh nghiệp lớn đồng loạt giữ nguyên bảng giá niêm yết từ các phiên trước.
Cụ thể, thương hiệu Hòa Phát giữ nguyên giá thép cuộn CB240 và thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 15.120 đồng/kg trên toàn quốc. Tại khu vực miền Bắc, Thép Việt Ý niêm yết dòng thép CB240 ở mức 14.850 đồng/kg, trong khi Thép Việt Đức báo giá cả hai dòng CB240 và D10 CB300 cùng ở mức 14.750 đồng/kg. Tương tự, thương hiệu Thép VJS miền Bắc lần lượt niêm yết giá dòng CB240 là 14.850 đồng/kg và D10 CB300 là 14.750 đồng/kg. Cuối cùng, Thép Thái Nguyên cũng giữ ổn định thị trường khi báo giá dòng CB240 ở mức 14.990 đồng/kg và dòng D10 CB300 ở mức 14.890 đồng/kg.
Sự ổn định về giá của các doanh nghiệp nội địa cho thấy thị trường trong nước hiện đang có khả năng tự cân đối cung cầu tương đối tốt, giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực từ đà suy thoái giá của thị trường thép Trung Quốc.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
