Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt giảm
Trên thị trường quốc tế, giá vàng giảm trong phiên giao dịch ngày 12/3 khi nhà đầu tư lo ngại áp lực lạm phát có thể gia tăng do giá năng lượng leo thang. Giá vàng giao ngay (XAU/USD) giảm 1,5%, xuống còn khoảng 5.099,82 USD/ounce, trong khi giá vàng kỳ hạn giảm 1,4% xuống 5.105,16 USD/ounce.
Đà suy yếu của kim loại quý xuất hiện trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông leo thang, đặc biệt sau khi Iran tuyên bố tiếp tục đóng cửa Eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển năng lượng quan trọng của thế giới. Diễn biến này đã đẩy giá dầu tăng mạnh, làm dấy lên lo ngại về nguy cơ lạm phát toàn cầu gia tăng.
Theo cảnh báo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế, việc phong tỏa eo biển Hormuz đang tạo ra sự gián đoạn nguồn cung lớn nhất trong lịch sử thị trường dầu mỏ toàn cầu. Giá dầu chuẩn Brent crude oil hiện dao động quanh mốc 100 USD/thùng, làm gia tăng áp lực chi phí năng lượng đối với nhiều nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sớm cắt giảm lãi suất đang dần suy yếu. Lãi suất cao thường làm tăng sức hấp dẫn của đồng USD và lợi suất trái phiếu, từ đó khiến vàng – tài sản không sinh lợi suất – trở nên kém hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, sự mạnh lên của đồng bạc xanh cũng gây áp lực lên thị trường vàng. Chỉ số US Dollar Index (DXY) đã tăng khoảng 0,3% trong phiên gần nhất, khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với các nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền khác.
Tuy vậy, nhiều nhà phân tích cho rằng xu hướng dài hạn của vàng chưa thay đổi đáng kể, bởi các rủi ro địa chính trị và kinh tế toàn cầu vẫn đang hiện hữu và có thể tiếp tục hỗ trợ nhu cầu đối với tài sản trú ẩn.
Ở phía nguồn cung, theo Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), sản lượng vàng khai thác toàn cầu trong năm 2025 đạt mức kỷ lục 3.672 tấn, tăng khoảng 1% so với năm trước. Nguồn cung vàng dự kiến tiếp tục tăng trong năm 2026 khi một số mỏ lớn quay trở lại hoạt động.
Giá bạc đảo chiều tăng
Trên thị trường bạc, giá bạc giao ngay dao động quanh mức 86,9 USD/ounce trong phiên giao dịch tại châu Âu, thu hẹp mức giảm của phiên trước đó.
Tuy nhiên, triển vọng tăng của bạc vẫn đối mặt với nhiều thách thức khi giá dầu tăng mạnh làm gia tăng nguy cơ lạm phát và khiến khả năng Fed cắt giảm lãi suất trong ngắn hạn trở nên thấp hơn. Khi mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao, lợi suất trái phiếu thường tăng lên, khiến chi phí cơ hội của việc nắm giữ các kim loại quý không sinh lợi suất như bạc trở nên lớn hơn.
Ngoài yếu tố chính sách tiền tệ, đà tăng của bạc cũng chịu ảnh hưởng từ sự mạnh lên của đồng USD. Khi đồng bạc xanh tăng giá, bạc trở nên đắt đỏ hơn đối với các nhà đầu tư quốc tế, từ đó làm giảm nhu cầu mua vào.
Theo chuyên gia phân tích kim loại quý Christopher Lewis của FX Empire, ngưỡng 90 USD/ounce hiện được xem là vùng kháng cự mạnh đối với thị trường bạc khi giá đã nhiều lần thử vượt qua nhưng chưa thể duy trì đà tăng bền vững.
Ông cho rằng trong ngắn hạn, giá bạc vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh. Tuy nhiên, khu vực quanh 80 USD/ounce được xem là vùng hỗ trợ quan trọng, có khả năng thu hút lực mua trở lại. Trong trường hợp áp lực bán gia tăng và giá phá vỡ vùng này, thị trường có thể quay lại kiểm tra mốc 70 USD/ounce.
Dù vậy, triển vọng dài hạn của bạc vẫn được đánh giá tích cực nhờ nhu cầu trong các ngành công nghiệp công nghệ cao, sản xuất pin và năng lượng tái tạo.
Giá thép và quặng sắt đồng loạt tăng nhờ kỳ vọng sản lượng gang phục hồi
Ở nhóm kim loại công nghiệp, giá thép và quặng sắt trên các sàn giao dịch lớn ghi nhận xu hướng phục hồi nhờ kỳ vọng nhu cầu sản xuất thép tại Trung Quốc cải thiện.
Trên Sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải, giá thép thanh kỳ hạn tháng 4/2026 đi ngang quanh mức 3.107 Nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, giá quặng sắt trên Sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên tăng 0,63% lên 801,5 Nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn giao dịch Singapore, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 4 cũng tăng lên 104,15 USD/tấn. Các nhà phân tích cho rằng giá quặng sắt được hỗ trợ khi thị trường kỳ vọng sản lượng gang nóng – nguyên liệu đầu vào quan trọng cho sản xuất thép – sẽ phục hồi sau giai đoạn các nhà máy Trung Quốc hạn chế sản xuất trong thời gian diễn ra kỳ họp quốc hội thường niên.
Tại thị trường trong nước, giá thép xây dựng tiếp tục duy trì ổn định. Theo dữ liệu từ SteelOnline, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 12.520 - 13.950 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Tại miền Bắc, giá thép Việt Đức với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.500 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 12.850 đồng/kg. Thép Hòa Phát với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.800 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.600 đồng/kg. Thép Việt Sing với dòng thép cuộn CB240 giá 13.640 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 giá 13.430 đồng/kg. Thép Việt Ý với dòng thép cuộn CB240 giá 13.640 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 giá 12.880 đồng/kg. Thép VAS với dòng thép cuộn CB240 giá 13.530 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 giá 13.130 đồng/kg.
Tại miền Trung, giá thép Việt Đức với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.950 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 là 13.550 đồng/kg. Thép Hòa Phát với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.800 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.600 đồng/kg. Thép VAS với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.640 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.130 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá thép Hòa Phát với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.800 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.600 đồng/kg. Thép VAS với dòng thép cuộn CB240 giá 13.530 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 là 12.730 đồng/kg. Thép TungHo với dòng thép cuộn CB240 có giá 13.030 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 là 12.520 đồng/kg.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
