Giá cao su thế giới
Bước sang phiên giao dịch ngày 1/4, thị trường cao su thế giới ghi nhận trạng thái giằng co với xu hướng tăng giảm đan xen giữa các sàn giao dịch lớn. Nguyên nhân chủ yếu đến từ lo ngại giá dầu chưa ổn định, qua đó ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, vận chuyển cũng như triển vọng thương mại toàn cầu.
Cụ thể, tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 0,7% lên mức 75,8 Baht/kg. Trong khi đó, tại Nhật Bản, giá cao su cùng kỳ hạn lại giảm 0,4%, xuống còn 363,5 Yên/kg. Trên thị trường Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 4 cũng giảm 0,4% về mức 16.390 Nhân dân tệ/tấn. Ngược lại, trên Sàn Singapore (SICOM), hợp đồng cao su kỳ hạn tháng gần nhất tăng nhẹ 0,1%, đạt 200 UScent/kg.
Đáng chú ý, các hợp đồng kỳ hạn xa hơn lại có xu hướng tích cực hơn. Trên Sàn Osaka, hợp đồng giao tháng 9 tăng 1,74% lên 380,7 Yên/kg, đánh dấu phiên tăng thứ 5 liên tiếp. Diễn biến này chủ yếu được hỗ trợ bởi đồng Yên suy yếu xuống mức thấp nhất trong vòng 1,5 năm và giá dầu duy trì ở mức cao, qua đó cải thiện tâm lý thị trường.
Tại Trung Quốc, hợp đồng cao su giao tháng 5 trên Sàn Thượng Hải cũng tăng nhẹ 0,24% lên 16.540 Nhân dân tệ/tấn. Tuy nhiên, ở phân khúc cao su tổng hợp, giá butadiene lại giảm mạnh 2,4%, phản ánh sự phân hóa rõ nét giữa các dòng sản phẩm.
Dù ghi nhận một số tín hiệu tăng nhẹ ở các kỳ hạn trung và dài trên thị trường quốc tế, xu hướng phục hồi của giá cao su hiện vẫn khá thận trọng. Biên độ tăng còn hạn chế cho thấy lực cầu chưa đủ mạnh để tạo ra một xu hướng rõ ràng.
Trong ngắn hạn, thị trường cao su nhiều khả năng tiếp tục chịu ảnh hưởng từ diễn biến giá dầu – yếu tố có tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất cao su tổng hợp cũng như chi phí logistics toàn cầu. Bên cạnh đó, biến động tỷ giá, đặc biệt là đồng Yên và Nhân dân tệ, cũng sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu và tâm lý nhà đầu tư.
Giá cao su trong nước
Trái ngược với diễn biến giằng co trên thị trường quốc tế, giá cao su trong nước ngày 1/4 tiếp tục duy trì ổn định tại các doanh nghiệp lớn, chưa ghi nhận điều chỉnh so với phiên trước.
Tại Công ty Cao su Mang Yang, giá thu mua mủ nước dao động trong khoảng 458 – 463 đồng/TSC/kg đối với loại 2 đến loại 1. Mủ đông tạp được thu mua ở mức 404 – 459 đồng/DRC/kg. Đây là mặt bằng giá tương đối ổn định trong nhiều phiên gần đây.
Tại Công ty Cao su Bình Long, giá thu mua mủ nước tại nhà máy giữ ở mức 432 đồng/TSC/kg, trong khi tại các đội sản xuất là 422 đồng/TSC/kg. Giá mủ tạp (DRC 60%) cũng được duy trì ở mức 14.000 đồng/kg, không có biến động.
Công ty Cao su Bà Rịa tiếp tục áp dụng mức giá thu mua mủ nước 420 – 452 đồng/độ TSC/kg tùy theo chất lượng, trong khi mủ đông có giá dao động từ 13.500 – 18.000 đồng/kg tùy theo hàm lượng DRC. Tương tự, Công ty Cao su Phú Riềng giữ nguyên mức giá mủ nước khoảng 420 – 440 đồng/TSC/kg và mủ tạp quanh 390 – 400 đồng/DRC/kg.
Việc giá cao su trong nước “đi ngang” phản ánh tâm lý thận trọng của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động. Nếu giá nguyên liệu đầu vào và thị trường xuất khẩu không có biến động lớn, giá cao su nhiều khả năng vẫn duy trì trạng thái ổn định. Tuy nhiên, trong trường hợp giá dầu tăng mạnh hoặc nhu cầu toàn cầu phục hồi rõ rệt, thị trường có thể xuất hiện những nhịp tăng giá mới.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
