Đo lường Kinh tế số Việt Nam: Định lượng giá trị thực của nền kinh tế số

Đo lường kinh tế số tại Việt Nam đang là một bài toán phức tạp về mặt kỹ thuật, đòi hỏi sự kết hợp giữa thống kê truyền thống và các phương pháp ước lượng hiện đại. Kết quả đo lường vừa qua cho thấy cấu trúc kinh tế số hiện nay đang bị lệch về phía sản xuất phần cứng và khối FDI.

Việt Nam đặt mục tiêu rất cao cho kinh tế số là 30% vào năm 2030. Tuy nhiên, hệ thống đo lường hiện tại đang phải vật lộn để theo kịp các mục tiêu chính sách này. Bộ Thông tin và Truyền thông (MIC) và Tổng cục Thống kê (GSO) trước đây, nay là Bộ Tài Chính và Bộ KH&CN, đang nỗ lực xây dựng một phương pháp luận có thể nắm bắt được cả phần "lõi" và phần "lan tỏa".

Phương pháp của Cục Thống kê (GSO - Bộ Tài chính): Tiếp cận theo Tài khoản Quốc gia (SNA)

Phương pháp của GSO được xây dựng dựa trên sự tham vấn với các tổ chức quốc tế như OECD và ADB, nhằm đảm bảo tính so sánh quốc tế. Chỉ tiêu quan trọng nhất là "Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP".

Công thức tính toán Giá trị tăng thêm (Value Added - VA) của kinh tế số được tính theo phương pháp sản xuất:

VAKTS = GOKTS - ICKTS

Trong đó: VAKTS là Giá trị tăng thêm của kinh tế số. GOKTS là Giá trị sản xuất (Gross Output) của khu vực kinh tế số. ICKTS là Chi phí trung gian (Intermediate Consumption) phục vụ cho hoạt động kinh tế số.

Điểm mấu chốt ở đây là việc xác định phạm vi của GOKTS. GSO chia thành hai cấu phần: Kinh tế số lõi (Core Digital Economy) bao gồm toàn bộ giá trị tăng thêm của các ngành thuộc lĩnh vực CNTT và Truyền thông (ICT). Việc xác định dựa trên hệ thống mã ngành kinh tế Việt Nam (VSIC 2018). Các ngành cấp 2 tiêu biểu gồm: Sản xuất sản phẩm điện tử (Mã 26), Viễn thông (Mã 61), Lập trình máy tính (Mã 62).9. Và Kinh tế số lan tỏa (Digitized Economy) là phần giá trị tăng thêm được tạo ra nhờ việc ứng dụng công nghệ số trong các ngành không phải là ICT (ví dụ: Grab vận hành trong ngành vận tải, nhưng phần giá trị tạo ra nhờ thuật toán kết nối được tính vào kinh tế số).

Tuy nhiên, thách thức trong việc bóc tách "Giá trị lan tỏa" là phần khó khăn nhất và gây tranh cãi nhất trong phương pháp luận.

Làm thế nào để xác định bao nhiêu phần trăm doanh thu của một ngân hàng đến từ ứng dụng Mobile Banking (kinh tế số) và bao nhiêu đến từ giao dịch tại quầy (kinh tế truyền thống)? GSO hiện đang sử dụng các hệ số phân bổ dựa trên các cuộc điều tra mẫu và bảng cân đối liên ngành (I/O Table) để ước lượng phần này. Hiện nay, do chưa có hướng dẫn thống nhất từ Liên Hợp Quốc (UNCTAD), phương pháp này vẫn mang tính "thực nghiệm" cao. 

Phương pháp của Bộ KH&CN: Tiếp cận quản lý phát triển

Bộ KH&CN, cùng với các viện nghiên cứu, thường sử dụng một cách tiếp cận linh hoạt hơn để phục vụ chỉ đạo điều hành, thể hiện rõ ở 2 chỉ tiêu: Đo lường Doanh thu (Gross Merchandise Value - GMV) và Tiếp cận theo chuỗi giá trị.

Trong khi GSO quan tâm đến Giá trị tăng thêm, Bộ KH&CN và các báo cáo quốc tế (như e-Conomy SEA của Google) thường nhìn vào tổng giá trị hàng hóa giao dịch (GMV) để thấy quy mô thị trường. Con số này thường lớn hơn rất nhiều so với GDP đóng góp.

Bộ KH&CN (trước đây là Bộ TT&TT) hướng dẫn các địa phương nhìn vào số lượng doanh nghiệp công nghệ số, doanh thu từ phần mềm và dịch vụ CNTT để đánh giá sức khỏe của ngành. Bộ này cũng chú trọng đo lường "Kinh tế nền tảng" (Platform Economy) và "Kinh tế chia sẻ".

Sự khác biệt về số liệu và nguyên nhân

Người đọc thường bối rối khi thấy các con số khác nhau về cùng một chỉ tiêu. Ví dụ, tỷ trọng kinh tế số của Hà Nội năm 2022 theo Bộ TT&TT là 17,5%, trong khi một nghiên cứu khác phối hợp với Đại học Kinh tế Quốc dân lại đưa ra con số 23,5%. Tương tự, tại TP.HCM, số liệu của Cục Thống kê thường thấp hơn số liệu ước tính của các Viện nghiên cứu địa phương.

Nguyên nhân của sự chênh lệch này nằm ở việc các viện nghiên cứu có thể tính cả doanh thu thương mại điện tử vào kinh tế số, trong khi GSO chỉ tính phần phí dịch vụ hoặc biên thương mại. Ngoài ra, khi xử lý số liệu FDI, GSO bóc tách rất kỹ phần chi phí trung gian (nhập khẩu linh kiện) của các doanh nghiệp FDI, dẫn đến Giá trị tăng thêm thực tế thấp hơn nhiều so với Giá trị sản xuất. Các phương pháp khác có thể chưa loại trừ hết yếu tố này.

Kinh tế số Việt Nam Định lượng giá trị thực của nền kinh tế số
Báo cáo e-Conomy SEA 2025: Người Việt Nam đứng đầu khu vực về mức độ tương tác với AI.

Kinh tế số Việt Nam giai đoạn 2021-2025 qua lăng kính số liệu

Dựa trên hệ thống chỉ tiêu và phương pháp luận nêu trên, bức tranh kinh tế số Việt Nam giai đoạn 2021-2025 hiện lên với những đặc điểm cấu trúc rất rõ nét, phản ánh mô hình tăng trưởng của đất nước.

Theo các báo cáo và kịch bản đến năm 2025, kinh tế số dự kiến đóng góp khoảng 14,02% GDP (theo giá so sánh). Tuy nhiên, khi "mổ xẻ" con số này, ta thấy một sự mất cân đối, "lệch" về Phần cứng và FDI.

Sự thống trị của Kinh tế số lõi thể hiện ở số liệu của các ngành ICT (sản xuất phần cứng, viễn thông) đóng góp tới 8,42% GDP, chiếm hơn 60% tổng giá trị kinh tế số. Điều này phản ánh thực tế Việt Nam là một công xưởng lắp ráp điện tử của thế giới (với sự hiện diện của Samsung, Intel, LG, Foxconn).

Trong khi đó, Kinh tế số lan tỏa còn khiêm tốn, phần đóng góp của kinh tế số trong các ngành khác chỉ chiếm khoảng 5,6% GDP. Cụ thể, Thương mại điện tử là điểm sáng lớn nhất (chiếm 11,8% giá trị kinh tế số), tiếp theo là Sản xuất điện/khí đốt (4%) và Tài chính (2,6%). Các ngành như Y tế, Giáo dục, Nông nghiệp có tỷ trọng số hóa cực thấp, cho thấy dư địa chuyển đổi số còn rất lớn nhưng rào cản cũng rất nhiều.

Xem xét một "nghịch lý" điển hình là Bắc Ninh và 2 thành phố đặc biệt, khi việc áp dụng phương pháp tính GRDP kinh tế số đã tạo ra một bảng xếp hạng thú vị, nơi các tỉnh công nghiệp vượt xa các trung tâm dịch vụ.

Bắc Ninh luôn dẫn đầu cả nước với tỷ trọng kinh tế số trong GRDP cao kỷ lục, đạt 46,30% (có báo cáo lên tới 56,83%). Con số này chủ yếu đến từ hoạt động sản xuất của tổ hợp Samsung.

Theo phương pháp tính VSIC, toàn bộ giá trị gia tăng của ngành sản xuất điện tử (Mã 26) được tính là kinh tế số. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng phần lớn công nghệ, thiết kế và giá trị thặng dư cao nhất nằm ở công ty mẹ tại Hàn Quốc. Bắc Ninh đóng góp phần gia công, lắp ráp.

Đây là mô hình "Kinh tế số thâm dụng vốn và lao động" (Capital & Labor intensive), khác với mô hình "Kinh tế số thâm dụng tri thức" (Knowledge intensive). Mức độ lan tỏa của các nhà máy này sang nền kinh tế địa phương (spillover effect) vẫn là một dấu hỏi lớn.

Kinh tế số Việt Nam Định lượng giá trị thực của nền kinh tế số
Mô hình "Kinh tế số thâm dụng vốn và lao động" và mô hình "Kinh tế số thâm dụng tri thức" cho ra Tỷ trọng kinh tế số khác biệt.

Còn tại Hà NộiTP. Hồ Chí Minh, nơi dịch vụ số và sáng tạo số phát triển mạnh mẽ, lại có tỷ trọng kinh tế số thấp hơn (khoảng 13% - 17%) so với Bắc Ninh.

Mặc dù con số % thấp hơn, nhưng cấu trúc kinh tế số tại hai thành phố này mạnh và bền vững hơn, được cấu thành từ hàng nghìn doanh nghiệp phần mềm, start-up công nghệ, dịch vụ tài chính số và thương mại điện tử sôi động. Giá trị gia tăng ở đây đến từ sự sáng tạo (innovation) và dịch vụ (services) hơn là công nghiệp ICT (lắp ráp phần cứng).

TP.HCM đặt mục tiêu rất cao, 40% vào năm 2030. Để đạt được điều này, thành phố phải dựa vào việc số hóa các ngành dịch vụ thế mạnh (logistics, tài chính, du lịch) chứ không thể dựa vào mở thêm nhà máy lắp ráp điện tử.

Bên cạnh đó, số liệu thống kê chỉ ra một thực tế đáng lo ngại, chỉ có 4 địa phương có tỷ trọng kinh tế số trên 20% (Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Phòng, Phú Thọ - đều là các trung tâm công nghiệp ICT phần cứng, lắp ráp điện tử lớn). Phần lớn các tỉnh còn lại (26 tỉnh) chỉ đạt mức 6-10%. Điều này cho thấy "vết dầu loang" của kinh tế số chưa lan rộng đến các vùng nông thôn, miền núi, tạo ra nguy cơ gia tăng khoảng cách phát triển.

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu tại địa phương

Dựa trên hướng dẫn của Bộ TT&TT trước đây, nay là Bộ KH&CN, và thực tiễn triển khai, quy trình đo lường tại cấp tỉnh hiện nay là một nỗ lực phối hợp liên ngành.

Nguồn dữ liệu đầu vào để tính toán các chỉ tiêu, địa phương phải tổng hợp dữ liệu từ nhiều nguồn: Dữ liệu hành chính từ Sở Tài chính là số lượng doanh nghiệp đăng ký mã ngành ICT, vốn điều lệ. Từ Cục Thuế (Bộ Tài chính quản lý) là Doanh thu kê khai thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty công nghệ và sàn thương mại điện tử. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng nhất để xác định GO (Giá trị sản xuất).

Dữ liệu chuyên ngành từ các Doanh nghiệp Viễn thông là số liệu về hạ tầng (trạm BTS), lưu lượng data, số thuê bao smartphone. Dữ liệu này được báo cáo định kỳ về Sở TT&TT (nay là Sở KH&CN).

Dữ liệu điều tra thống kê do Thống kê tỉnh/thành phố thực hiện các cuộc điều tra mẫu hàng năm đối với doanh nghiệp và hộ gia đình để xác định tỷ lệ chi phí trung gian IC và tỷ lệ ứng dụng công nghệ.

Về kỹ thuật Ước lượng và "Nội suy", do nhiều địa phương chưa có khả năng chạy các mô hình Cân đối liên ngành (Input-Output Model) phức tạp như GSO trung ương, Bộ TT&TT đã hướng dẫn phương pháp ước lượng nội suy, theo cơ chế: Địa phương sử dụng số liệu chính thức của năm gốc (ví dụ 2020), sau đó áp dụng tốc độ tăng trưởng của các chỉ số đại diện (proxy indicators) để ước tính cho năm hiện tại.

Các chỉ số đại diện: Tốc độ tăng trưởng doanh thu phần mềm, tốc độ tăng trưởng thuê bao băng rộng, hoặc tham chiếu tốc độ tăng trưởng chung của khu vực từ các báo cáo quốc tế (như Google e-Conomy SEA).

Kinh tế số Việt Nam Định lượng giá trị thực của nền kinh tế số
Tỷ trọng kinh tế số so với tổng GRDP của TP.HCM theo phương pháp ước lượng nội suy tuyến tính hai chiều.

Đặc biệt, trong Quý 3/2024, Bộ TT&TT đã chọn TP.HCM làm nơi thí điểm đo mẫu, sử dụng các phương pháp mới kết hợp dữ liệu lớn, sau đó sẽ nhân rộng ra toàn quốc.

Các phương thức định lượng kinh tế số phi chính thức

Việc định lượng kinh tế số phi chính thức (như kinh doanh qua Facebook, Zalo, Livestream cá nhân) là một trong những thách thức lớn nhất hiện nay do các hoạt động này thường không đăng ký kinh doanh, né thuế và khó bị "quét" bởi hệ thống thống kê truyền thống. Dưới đây là các phương pháp và định hướng để định lượng khu vực này:

Khai thác Dữ liệu lớn (Big Data) và Dữ liệu từ các nhà mạng: Thay vì chỉ dựa vào các cuộc điều tra mẫu truyền thống vốn có độ trễ và khó bao phủ hết khu vực phi chính thức, các nguồn tài liệu đề xuất chuyển dịch sang khai thác Dữ liệu lớn, bao gồm: Dữ liệu từ doanh nghiệp viễn thông trong việc sử dụng số liệu về lưu lượng dữ liệu (data traffic), số thuê bao smartphone và các chỉ số hạ tầng để làm "chỉ số đại diện" (proxy indicators) cho các hoạt động trực tuyến. Và Hệ thống Dashboard tự động do Bộ Thông tin và Truyền thông vận hành các hệ thống đo lường tự động để theo dõi các chỉ số kỹ thuật theo thời gian thực, giúp nhận diện quy mô hoạt động trên không gian mạng.

Kinh tế số Việt Nam Định lượng giá trị thực của nền kinh tế số
Thách thức định lượng kinh tế số phi chính thức.

Sử dụng dữ liệu từ các nền tảng thanh toán và hóa đơn điện tử: Cho phép kết nối dữ liệu thuế thông qua sử dụng dữ liệu từ hóa đơn điện tử và các nền tảng thanh toán để truy vết các giao dịch thực tế. Mặc dù cá nhân kinh doanh trên mạng xã hội có thể không xuất hóa đơn, nhưng dòng tiền qua các ví điện tử và hệ thống ngân hàng là nguồn dữ liệu quan trọng để bóc tách giá trị.

Đồng thời chia sẻ dữ liệu liên ngành từ Bộ Tài chính chia sẻ dữ liệu hóa đơn điện tử (đã ẩn danh) cho Cục Thống kê để phục vụ việc tính toán nhanh và chính xác hơn, giúp giảm tình trạng ước lượng thấp hơn thực tế.

Phương pháp "Nội suy" và Chỉ số đại diện (Proxy Indicators) được áp dụng đối với những khu vực chưa có số liệu gốc từ sổ sách kế toán, các cơ quan chức năng sử dụng kỹ thuật ước lượng: Áp dụng tốc độ tăng trưởng của các bên thứ ba để tham chiếu tốc độ tăng trưởng từ các báo cáo quốc tế uy tín (như e-Conomy SEA của Google, Temasek) hoặc tốc độ tăng trưởng doanh thu dịch vụ số để nội suy cho khu vực phi chính thức.

Cùng với Hệ số phân bổ được Cục Thống kê sử dụng các hệ số dựa trên điều tra mẫu và bảng cân đối liên ngành (I/O Table) để ước lượng phần giá trị tăng thêm từ các hoạt động lan tỏa trên môi trường số.

Quản lý qua các nền tảng xuyên biên giới theo Thông tư 80/2021/TT-BTC, việc yêu cầu các nhà cung cấp nước ngoài (Google, Facebook...) kê khai và nộp thuế tại Việt Nam không chỉ giúp thu thuế mà còn cung cấp dữ liệu về phần "nhập khẩu dịch vụ số". Dựa trên số liệu doanh thu của các nền tảng này tại Việt Nam, cơ quan thống kê có thể ước tính được quy mô hoạt động quảng cáo và bán hàng của các cá nhân, hộ kinh doanh trên các nền tảng đó vốn trước đây thuộc khu vực "kinh tế ngầm".

Ở bài viết tiếp theo (Đo lường Kinh tế số Việt Nam: Hướng tới nền kinh tế số tự chủ và bền vững", nội dung sẽ tập trung vào phân tích thực trạng mất cân đối giữa khối FDI và doanh nghiệp nội địa, đồng thời đề xuất lộ trình xây dựng Bộ chỉ số kinh tế số nội địa để khẳng định năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam.

Tin khác
Đo lường Kinh tế số Việt Nam: Khát vọng 30% GDP và chiếc "la bàn" đầu tiên
Đo lường Kinh tế số Việt Nam: Khát vọng 30% GDP và chiếc "la bàn" đầu tiên

Hệ thống đo lường kinh tế số của Việt Nam không vận hành độc lập mà là sự tương tác giữa ba trụ cột: Thống kê, Tài chính (Bộ Tài chính) và Công nghệ (Bộ KH&CN), dưới sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ.

Duy trì lợi thế, ngành cảng biển Việt Nam tăng trưởng thận trọng
Duy trì lợi thế, ngành cảng biển Việt Nam tăng trưởng thận trọng

Trong báo cáo triển vọng ngành, Chứng khoán Mirae Asset Việt Nam (MASVN) cho rằng ngành cảng biển Việt Nam vẫn giữ được lợi thế tương đối nhờ đà thương mại ổn định và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, áp lực từ thuế quan cao, nhu cầu toàn cầu suy yếu và cạnh tranh gia tăng khiến triển vọng tăng trưởng cần được nhìn nhận thận trọng.

Kinh tế Việt Nam vào chu kỳ tăng trưởng mới: Nhà nước dẫn dắt, tư nhân bứt tốc
Kinh tế Việt Nam vào chu kỳ tăng trưởng mới: Nhà nước dẫn dắt, tư nhân bứt tốc

Sau giai đoạn phục hồi mạnh mẽ hậu đại dịch, kinh tế Việt Nam đang bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới với nền tảng vĩ mô vững chắc hơn. Trong bức tranh đó, khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt thông qua đầu tư công và cải cách thể chế, trong khi kinh tế tư nhân được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng quan trọng, tạo lực kéo dài hạn cho nền kinh tế.

Đo lường Kinh tế số Việt Nam: Hướng tới nền kinh tế số tự chủ và bền vững
Đo lường Kinh tế số Việt Nam: Hướng tới nền kinh tế số tự chủ và bền vững

Sự ra đời của Hệ thống đo lường kinh tế số tại Việt Nam là một bước tiến quan trọng trong việc hiện đại hóa công tác thống kê quốc gia, Bộ tiêu chí này không chỉ cung cấp những con số mà còn vẽ nên bức tranh sống động về sự chuyển mình của nền kinh tế.

Standard Chartered: Việt Nam tiếp tục là điểm sáng tăng trưởng kinh tế châu Á năm 2026
Standard Chartered: Việt Nam tiếp tục là điểm sáng tăng trưởng kinh tế châu Á năm 2026

Ngân hàng Standard Chartered duy trì đánh giá tích cực về triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2026, cho rằng Việt Nam vẫn nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á, dù môi trường kinh tế toàn cầu tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định.

Lâm Đồng: Đặt mục tiêu tăng trưởng công nghiệp hai con số, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn các KCN
Lâm Đồng: Đặt mục tiêu tăng trưởng công nghiệp hai con số, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn các KCN

Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Lâm Đồng vừa tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026, đánh giá toàn diện kết quả thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng cũng như những tồn tại cần sớm khắc phục để tạo động lực tăng trưởng mới cho ngành công nghiệp của tỉnh.

FDI năm 2025: Lý do đằng sau sức hút và triển vọng của kinh tế Việt Nam
FDI năm 2025: Lý do đằng sau sức hút và triển vọng của kinh tế Việt Nam

Năm 2025 đã khép lại với một thành tựu đáng kể trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, khi tổng vốn đăng ký đạt 38,42 tỷ USD, tăng nhẹ 0,5% so với 38 tỷ USD của năm 2024, theo số liệu từ Cục Thống kê nhà nước tính đến hết tháng 12/2025 và vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD

Tái khởi động chu kỳ dầu khí: Cơ hội nào mở ra trong năm 2026?
Tái khởi động chu kỳ dầu khí: Cơ hội nào mở ra trong năm 2026?

Sau giai đoạn điều chỉnh mạnh của giá dầu và sự trầm lắng của hoạt động đầu tư, ngành dầu khí Việt Nam đang bước vào năm bản lề 2026 với nhiều tín hiệu cho thấy một chu kỳ tăng trưởng mới đang dần hình thành. Động lực không chỉ đến từ giá dầu, quan trọng hơn là sự tái khởi động đồng loạt của các dự án thượng nguồn, làn sóng phát triển LNG và nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng của nền kinh tế.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc