Đẩy mạnh khai thác nguồn hàng hóa xuất khẩu từ Lào

Là một nước không giáp biển, Lào chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp, khoáng sản và điện thông qua các cửa khẩu ra cảng biển ở các nước Đông Nam Á. Với lợi thế cửa ngõ ra biển của vùng Nam Lào, cảng Chu Lai (Quảng Nam) đã đầu tư đồng bộ về hạ tầng, trang thiết bị, công nghệ, nâng cấp chuỗi dịch vụ, để đẩy mạnh khai thác nguồn hàng xuất khẩu từ đất nước "triệu voi" này.

Triển vọng khai thác nguồn hàng xuất khẩu từ thị trường Lào

Theo Bộ Công Thương Lào, năm 2022, mặc dù tình hình kinh tế thế giới, khu vực gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng Lào vẫn ghi nhận những kết quả khả quan trong thương mại với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 14,4 tỷ USD, tăng 6,7% so với năm 2021. Đặc biệt các mặt hàng như: điện, vàng, giấy và sản phẩm từ giấy, quặng đồng, cao su, sắn lát, chuối… đều đặn được xuất khẩu ra thị trường thế giới. Hiện nay, nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa của Lào ngày càng tăng cao, mở ra cơ hội để các cảng ở miền Trung Việt Nam, trong đó có cảng Chu Lai thuộc Công ty Giao nhận - Vận chuyển quốc tế Trường Hải (THILOGI) đã thu hút nguồn "chân hàng", thúc đẩy giao thương khu vực và quốc tế.

Đẩy mạnh khai thác nguồn hàng hóa xuất khẩu từ Lào

Cảng Chu Lai hiện đang khai thác nguồn hàng xuất khẩu từ các vùng Savanakhet, Sepon, Attapeu, Pakse, Sekong với các sản phẩm có dư địa phát triển như nguyên liệu giấy, tinh bột sắn, trái cây tươi và đặc biệt là sắn lát. Ngày 10/4, chuyến tàu Trường Hải Star 3 mang 1.700 tấn sắn lát của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại VBS (Doanh nghiệp kinh doanh nông, lâm sản nguyên liệu, khai thác hàng nông sản xuất khẩu từ Lào) đã rời cảng Chu Lai. Đây là lô hàng sắn lát được vận chuyển trực tiếp từ Sekong, Lào đến cảng Chu Lai và xuất khẩu sang Trung Quốc. Hiện nay, doanh nghiệp này đang lưu trữ hơn 1.000 tấn sắn lát tại cảng và sản lượng sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.

Ông Nghiêm Đức Huy - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại VBS cho biết: "Sắn lát là hàng rời có phương thức vận chuyển, bảo quản, xếp dỡ đặc thù, chi phí cao, mất nhiều thời gian. Do đó việc lựa chọn đối tác để xuất khẩu được chúng tôi cân nhắc kỹ. Sau khi nghiên cứu và khảo sát, chúng tôi nhận thấy cảng Chu Lai đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chất lượng dịch vụ, thời gian, chi phí; đặc biệt là kho, bãi rộng có thể lưu trữ hàng hóa với số lượng lớn; các thủ tục tiếp nhận, lưu trữ, bảo quản, thủ tục hải quan, xuất hàng… đều nhanh chóng, phục vụ tốt nhu cầu xuất nhập khẩu của công ty".

Đẩy mạnh khai thác nguồn hàng hóa xuất khẩu từ Lào

Tận dụng lợi thế, đẩy mạnh đầu tư

Cảng Chu Lai hiện đang khai thác các tuyến vận tải đường biển nội địa TP.HCM - Chu Lai - Hải Phòng và ngược lại; cùng các tuyến hàng hải quốc tế kết nối trực tiếp đến các cảng lớn của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Đây là lợi thế để cảng tăng cường kết nối cung - cầu khu vực miền Trung, Tây Nguyên, Lào, Campuchia (nơi có nhu cầu lớn về xuất khẩu nông sản, nhập khẩu vật tư, vật liệu sản xuất); kết nối nguồn hàng xuất khẩu sang các thị trường nội Á và quốc tế, giúp giảm chi phí, rút ngắn thời gian, mang lại lợi ích kép cho khách hàng.

Hiện nay, cảng Chu Lai đặt mục tiêu tăng dần sản lượng hàng hóa qua cảng; nâng cao năng suất xếp dỡ; giảm đến 50% thời gian giải phóng tàu; giảm chi phí dịch vụ xuất nhập khẩu như: nâng hạ, xếp dỡ, lưu trữ… thấp hơn từ 5 - 40% so với mặt bằng chi phí trong khu vực. Theo ông Phan Văn Kỳ - Giám đốc cảng Chu Lai, cảng đang thu hút thêm nguồn hàng container, đa dạng hóa tuyến dịch vụ container khai thác tại cảng, phát triển các tuyến hải trình kết nối trực tiếp từ cảng Chu Lai đến các cảng quốc tế. Đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu thị trường, nắm bắt kịp thời các nhu cầu, xu hướng sử dụng dịch vụ của khách hàng. Đặc biệt, cảng cũng áp dụng linh hoạt các chính sách kinh doanh và hậu mãi phù hợp với từng nhu cầu riêng biệt, xây dựng các mô hình dịch vụ cảng biển trọn gói nhằm tạo sự thuận tiện và tiết kiệm cho khách hàng.

Đẩy mạnh khai thác nguồn hàng hóa xuất khẩu từ Lào

Thời gian tới, cảng Chu Lai sẽ hoàn thiện và đưa vào vận hành bến cảng 5 vạn tấn để nâng cao năng lực cầu bến. Ngoài ra, cảng sẽ xây dựng, mở rộng hệ thống kho bãi để tiếp nhận lưu trữ một số mặt hàng chiến lược có nhiều dư địa phát triển từ Lào, Campuchia và miền Trung, Tây Nguyên như: sắn lát, tinh bột sắn, giấy và các sản phẩm từ giấy, viên nén, dăm gỗ, trái cây, cao su… Cảng cũng tiếp tục đầu tư hệ thống cẩu giàn, cẩu khung hiện đại hoạt động bằng điện thay vì dùng dầu diesel nhằm giảm giá dịch vụ và phát triển cảng theo hướng thân thiện với môi trường. Việc tận dụng lợi thế, đẩy mạnh đầu tư khai thác nguồn hàng xuất khẩu của các nước lân cận, trong đó chủ lực là từ Lào sẽ góp phần tạo tiền đề để cảng Chu Lai trở thành cửa ngõ trung chuyển hàng hóa quốc tế tại miền Trung, đóng góp phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương và khu vực.

Tin liên quan
Tin khác
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ

Từ siêu thị, trung tâm thương mại đến chợ truyền thống và các hộ kinh doanh nhỏ, thanh toán không dùng tiền mặt đang từng bước trở thành phương thức giao dịch quen thuộc tại TP Hồ Chí Minh. Cùng với sự chuyển dịch này, các cơ quan quản lý đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy thanh toán số phát triển rộng khắp.

Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị
Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang có thêm cơ hội khi các chuỗi cung ứng toàn cầu mở rộng hiện diện trong nước. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi không chỉ nằm ở khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng mà còn ở mức độ doanh nghiệp Việt có thể đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ công nghệ, vật liệu đến thiết kế và phát triển sản phẩm.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc