Chỉ khi doanh nghiệp lớn tham gia vào các chuỗi nông sản mới không còn chuyện "giải cứu"

"Chỉ khi nào các doanh nghiệp lớn tham gia và đưa thành các chuỗi (đầu ra họ lo, giống của họ), tìm cách phối hợp với nông dân và đạt được tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu thì mới không còn chuyện "giải cứu", Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải nói.

Doanh nghiệp cần phối hợp với người dân

Chia sẻ tại buổi Họp báo thường kỳ do Bộ Công Thương tổ chức mới đây, bà Nguyễn Cẩm Trang, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, vấn đề ùn ứ nông sản xuất khẩu, trước hết, nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp là do Trung Quốc tạm dừng thông quan ở hầu hết các cửa khẩu. Với những cửa khẩu mở thì quy trình giao nhận kiểm soát chặt chẽ để kiểm soát dịch bệnh.

Lý giải vấn đề ùn ứ nông sản xuất khẩu, bà Nguyễn Cẩm Trang cho biết, nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp khiến Trung Quốc tạm dừng thông quan ở hầu hết các cửa khẩu từ khi dịch bệnh lần thứ 4 bùng phát ở phía Bắc, Trung Quốc đã có sự quan ngại về tình hình dịch bệnh. Dù ta đã có nhiều nỗ lực giao thiệp với phía bạn để không gián đoạn giao thương nhưng Trung Quốc vẫn thực hiện nhiều giải pháp tăng cường kiểm soát hàng hóa phòng, chống dịch.

Doanh nghiệp cần phối hợp với người dân để sản xuất nông sản bền vững
Vấn đề xuất khâủ nông sản, hàng hóa đang được nhiều người dân, doanh nghiệp, ngành chức năng quan tâm.

Về nguyên nhân chủ quan, không thể phủ nhận các hạn chế cố hữu trong sản xuất và xuất khẩu nông sản của Việt Nam thời gian qua như: Sản xuất chưa đúng với quy trình, tiêu chuẩn và yêu cầu của thị trường; chất lượng hoặc bao gói vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu của thị trường nhập khẩu; việc truy xuất nguồn gốc, đăng ký vùng trồng còn chậm… Điều này dẫn đến việc trong số các sản phẩm nông sản xuất khẩu, vẫn có nhiều sản phẩm chưa thể xuất khẩu chính ngạch mà vẫn phải sử dụng hình thức trao đổi cư dân biên giới.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký kết ACFTA (Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Trung Quốc), trong đó ta đã đàm phán mức thuế về 0% đối với các sản phẩm nông sản xuất khẩu. Đồng thời, Việt Nam cũng có Hiệp định RCEP với mức giảm thuế xuất khẩu rất sâu. 

“Tuy nhiên, do việc đàm phán về quản lý chất lượng còn chậm, đến nay cả nước mới có 9 sản phẩm được công nhận xuất khẩu sang Trung Quốc. Việc đàm phán về kiểm dịch cũng chậm nên 100% sản phẩm trái cây xuất khẩu sang Trung Quốc đều phải kiểm dịch, trong khi đó, con số này với trái cây Thái Lan là 30%. Đây là khó khăn rất lớn cho nông sản Việt Nam khi xuất khẩu sang Trung Quốc”, bà Trang chỉ rõ.

Từ khi xuất hiện tình trạng ùn ứ, Chính phủ đã vào cuộc quyết liệt và có các cuộc họp chỉ đạo các bộ, ngành nhằm tháo gỡ tình trạng này. Bộ Công Thương đã nhanh chóng thành lập đoàn công tác cùng các tỉnh biên giới đưa ra giải pháp tháo gỡ và liên tục khuyến cáo doanh nghiệp điều tiết tiến độ đưa hàng lên biên giới. Các địa phương biên giới cũng thực hiện nhiều biện pháp phòng dịch đối với các xe, hàng ùn ứ tại cửa khẩu thời gian qua.

Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao đã trao đổi với phía bạn để có giải pháp kịp thời trước mắt tháo gỡ khó khăn như thống nhất quy trình giao nhận hay kéo dài thời gian thông quan tại cửa khẩu.

Đến nay, tình hình đã có những tiến triển tích cực. Nhiều cửa khẩu đã thông quan trở lại như Quảng Tây đã cho mở lại cửa khẩu tại Đông Hưng từ 10/1. Đặc biệt, với mặt hàng thanh long, từ 12/1 đã bắt đầu được thông quan qua cửa khẩu Lào Cai.

Phát biểu tại họp báo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải nhìn nhận, hiện chỉ có 9 loại hoa quả của Việt Nam xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc, còn lại các mặt hàng nông sản khác muốn xuất khẩu thì đều qua tiểu ngạch.

Đáng chú ý, kể cả thịt heo cũng chưa được xuất chính ngạch sang thị trường Trung Quốc, nên nếu sản xuất ra thừa thì quay lại phải nhìn vào sự hỗ trợ ngay tại thị trường trong nước. Do vậy, có thể thấy sự nhìn nhận, đầu tư của người nông dân vẫn chưa theo kịp với yêu cầu của thị trường.

“Chỉ khi nào các doanh nghiệp lớn tham gia và đưa thành các chuỗi (đầu ra họ lo, giống của họ), tìm cách phối hợp với nông dân và đạt được tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu thì mới không còn chuyện "giải cứu”, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải nói.

Doanh nghiệp cần phối hợp với người dân để sản xuất nông sản bền vững
Doanh nghiệp cần phối hợp với người dân để sản xuất, xuất khẩu nông sản bền vững.

Kích cầu tiêu thụ nội địa

Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) Lê Việt Nga cho hay khi xảy ra sự cố ách tắc hàng hóa tại các cửa khẩu, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Chỉ thị 14 ngày 29/12/2021 về việc tăng cường hỗ trợ tiêu thụ nông sản tại thị trường trong nước nhằm giảm áp lực cho thị trường xuất khẩu trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Theo đó, một số doanh nghiệp chế biến đã vào cuộc hỗ trợ tiêu thụ một lượng lớn nông sản (xoài, thanh long, chuối…)  quay đầu từ các cửa khẩu, đã phần nào chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp xuất khẩu và nông dân.

Đáng chú ý, thời điểm này, các nhà bán lẻ, các kênh phân phối đã bắt tay vào thực hiện chương trình tiêu thụ hàng Tết. Trong đó, có các sản phẩm nông sản trong nước lồng ghép với chương trình kích cầu gắn với bình ổn thị trường thông qua nhiều chương trình khuyến mại hấp dẫn.

Cũng theo bà Lê Việt Nga, nếu địa phương nào quan tâm hỗ trợ nông dân tìm kiếm thị trường, đổi mới hình thức tiếp cận khách hàng và phương thức bán hàng bằng thương mại điện tử sẽ rất thành công trong tiêu thụ hàng hoá, bắt kịp tín hiệu thị trường. Minh chứng rõ nét nhất là năm qua nhiều sản phẩm nông sản như: Xoài Sơn La, vải Thanh Hà, nhãn lồng Hưng Yên... được tiêu thụ với giá cao và ổn định.  

Theo Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, Bộ Công Thương đã trình Chính phủ Đề án đổi mới phương thức tiêu thụ nông sản và đã được Chính phủ phê duyệt cuối tháng 2/2021, trong đó nêu rõ quan điểm, mục tiêu, giải pháp để sắp tới có bước ngoặt trong tiêu thụ nông sản.

Trước mắt, do nguyên nhân khách quan về chống dịch khác nhau giữa các quốc gia đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng, tạo nên khó khăn chung trong xuất khẩu nông sản. Do đó, Bộ Công Thương đề nghị các địa phương, doanh nghiệp quyết liệt vào cuộc chung tay hỗ trợ nông dân tiêu thụ nông sản, đặc biệt là những loại nông sản đang vào chính vụ tại các tỉnh phía Nam.

Tin liên quan
Tin khác
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị
Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang có thêm cơ hội khi các chuỗi cung ứng toàn cầu mở rộng hiện diện trong nước. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi không chỉ nằm ở khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng mà còn ở mức độ doanh nghiệp Việt có thể đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ công nghệ, vật liệu đến thiết kế và phát triển sản phẩm.

Standard Chartered giữ dự báo GDP Việt Nam năm 2026 tăng 9,5%
Standard Chartered giữ dự báo GDP Việt Nam năm 2026 tăng 9,5%

Standard Chartered dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam quý III/2026 đạt 8,7% so với cùng kỳ năm trước, đưa tăng trưởng nửa cuối năm lên 10,6% và giữ nguyên dự báo GDP cả năm ở mức 9,5%. Sản xuất công nghiệp, thương mại và nhu cầu nội địa tiếp tục được xác định là những động lực hỗ trợ tăng trưởng trong những tháng cuối năm.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc