Cam kết sở hữu trí tuệ trong các FTA thế hệ mới
Trong xu thế hội nhập kinh tế sâu rộng, sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng trở thành một nội dung quan trọng trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam tham gia.
Việt Nam đã chủ động đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại với các đối tác lớn, chủ yếu là các FTA thế hệ mới, chất lượng cao như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Bảo hộ Đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Vương quốc Anh (UKVFTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) - được ví như một “siêu hiệp định” - bởi sự tham gia của một Việt Nam trong ASEAN với các đối tác có đa dạng các nền kinh tế cả trình độ cao, những quốc gia giàu có và cả những nền kinh tế còn nghèo, chậm phát triển. Như vậy, với tổng số 14 FTA đã có hiệu lực và cho các kết quả nổi bật trong hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa - được định danh bằng những con số thực, đưa Việt Nam từ một nền kinh tế phải nhập siêu trong suốt nhiều thập niên đã cân bằng được cán cân thương mại và có thặng dư - liên tục xuất siêu trong những năm gần đây.
Theo các cam kết quốc tế, phạm vi bảo hộ được mở rộng đối với nhiều đối tượng quyền SHTT, bao gồm quyền tác giả, sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý. Bên cạnh đó, các hiệp định cũng yêu cầu tăng cường cơ chế thực thi, nâng cao vai trò của cơ quan thực thi pháp luật và hải quan trong việc ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền SHTT.
Đáng chú ý, EVFTA và UKVFTA dành nhiều nội dung cho bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Theo cam kết trong EVFTA, Liên minh châu Âu bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam, trong đó có nhiều sản phẩm nổi tiếng như cà phê Buôn Ma Thuột, chè Mộc Châu hay nước mắm Phú Quốc. Việc được bảo hộ tại các thị trường lớn giúp nâng cao giá trị thương mại, tăng khả năng nhận diện thương hiệu và hạn chế tình trạng giả mạo xuất xứ đối với các sản phẩm đặc sản của Việt Nam.
Các cam kết về SHTT cũng thúc đẩy Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước theo hướng minh bạch và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Nhiều thủ tục liên quan đến đăng ký, xác lập và bảo vệ quyền SHTT được đơn giản hóa, số hóa, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong quá trình bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ.
Đối với doanh nghiệp, những cam kết này không chỉ là yêu cầu tuân thủ pháp lý mà còn mở ra cơ hội xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa trên SHTT và đổi mới sáng tạo. Khi quyền SHTT được bảo vệ và khai thác hiệu quả, doanh nghiệp có thêm nguồn lực, động lực để đầu tư cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm, ứng dụng công nghệ và mở rộng thị trường xuất khẩu. Đây cũng là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp Việt từng bước tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu, thay vì chỉ dừng lại ở hoạt động gia công hoặc sản xuất theo đơn đặt hàng.
Từ bảo hộ sở hữu trí tuệ đến thay đổi phương thức cạnh tranh
Nếu trước đây lợi thế của nhiều doanh nghiệp Việt chủ yếu dựa vào chi phí lao động, nguồn nhân công sản xuất hoặc khả năng mở rộng quy mô, thì với tác động từ các FTA thế hệ mới, quyền sở hữu trí tuệ đang trở thành một trong những yếu tố quan trọng cấu thành giá trị doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh trên thị trường.
Các cam kết về sở hữu trí tuệ trong CPTPP, EVFTA hay UKVFTA không đơn thuần là những quy định pháp lý cần tuân thủ. Quan trọng hơn, các cam kết này đang góp phần định hình lại môi trường cạnh tranh, nơi doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào giá rẻ mà phải cạnh tranh bằng công nghệ, chất lượng, sáng tạo và tài sản trí tuệ.
Sự thay đổi này đặc biệt rõ trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh chóng. Giá trị của doanh nghiệp ngày càng được tạo ra từ các tài sản trí tuệ như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, phần mềm máy tính, bí quyết công nghệ và dữ liệu phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới hiện có phần lớn giá trị thị trường đến từ các tài sản trí tuệ thay vì tài sản hữu hình truyền thống.
Đối với doanh nghiệp Việt Nam, đây vừa là cơ hội, vừa là sức ép phải thay đổi mô hình tăng trưởng. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo, tài sản trí tuệ không chỉ là đối tượng cần được bảo hộ mà còn là tài sản có thể khai thác để tạo ra giá trị kinh tế. Một sáng chế được thương mại hóa, một nhãn hiệu có uy tín trên thị trường hay một sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ ở nước ngoài đều có thể trở thành lợi thế cạnh tranh bền vững và nguồn gia tăng giá trị cho doanh nghiệp. Thực tế cho thấy nhiều sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý của Việt Nam như nước mắm Phú Quốc, cà phê Buôn Ma Thuột hay chè Mộc Châu đã nâng cao đáng kể giá trị thương mại sau khi được bảo hộ tại các thị trường quốc tế. Tuy nhiên, sự thay đổi không chỉ diễn ra trong lĩnh vực nông nghiệp. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, thương mại điện tử, nội dung số, thiết kế và dịch vụ sáng tạo cũng đang đối mặt với yêu cầu ngày càng cao về quản trị tài sản trí tuệ khi mở rộng hoạt động ra thị trường nước ngoài.
Giá trị của sở hữu trí tuệ không chỉ nằm ở việc được bảo hộ mà còn ở khả năng được khai thác và thương mại hóa. Thông qua chuyển giao công nghệ, nhượng quyền thương mại, góp vốn bằng tài sản trí tuệ hoặc mở rộng thị trường, các tài sản trí tuệ có thể trở thành nguồn doanh thu và lợi thế cạnh tranh lâu dài cho doanh nghiệp.
Theo Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030, sở hữu trí tuệ được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, vai trò của tài sản trí tuệ dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng.
Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp vẫn xem sở hữu trí tuệ chủ yếu là vấn đề pháp lý thay vì một loại tài sản có thể tạo ra lợi nhuận. Tình trạng đăng ký bảo hộ muộn, chưa chú trọng bảo vệ quyền tại các thị trường xuất khẩu hoặc chưa có chiến lược khai thác tài sản trí tuệ vẫn khá phổ biến. Đây có thể trở thành rào cản khi doanh nghiệp tham gia vào các thị trường có tiêu chuẩn bảo hộ ngày càng cao.
Vì vậy, tác động lớn nhất từ các cam kết quốc tế về sở hữu trí tuệ không chỉ nằm ở việc nâng cao tiêu chuẩn bảo hộ, mà còn ở việc thúc đẩy doanh nghiệp thay đổi mô hình cạnh tranh. Từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng sáng tạo; từ sản xuất gia công sang phát triển thương hiệu; từ khai thác tài nguyên sang tạo dựng giá trị dựa trên tri thức và công nghệ.
Doanh nghiệp cần làm gì để nắm bắt cơ hội?
Trước bối cảnh hội nhập sâu rộng và tiêu chuẩn bảo hộ sở hữu trí tuệ ngày càng cao, doanh nghiệp Việt cần chủ động thích ứng để biến thách thức thành lợi thế cạnh tranh.
Trước hết, việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ không chỉ trong nước mà tại các thị trường xuất khẩu mục tiêu là điều kiện tiên quyết. Theo quy định, quyền SHTT chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ, do đó, nếu không đăng ký kịp thời ở nước ngoài, doanh nghiệp có thể mất quyền sử dụng chính các đối tượng SHTT của mình.
Bên cạnh đó, cần đầu tư xây dựng chiến lược thương hiệu dài hạn, từ thiết kế logo, kiểu dáng sản phẩm đến bao bì, định vị thị trường. Việc phân biệt hóa rõ ràng giúp sản phẩm Việt trở nên nổi bật và bền vững hơn trên thị trường quốc tế.
Doanh nghiệp cũng nên chủ động tìm hiểu hệ thống pháp luật quốc tế về SHTT, đặc biệt trong môi trường số, nơi bản quyền đối với các nội dung số, thiết kế kỹ thuật số và thương mại điện tử ngày càng chiếm vai trò then chốt.
Cuối cùng, việc phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng như Cục Sở hữu trí tuệ, các cơ quan thực thi quyền hay các hiệp hội ngành hàng sẽ giúp doanh nghiệp được hỗ trợ kịp thời về thủ tục, tư vấn pháp lý và xử lý các hành vi xâm phạm nếu xảy ra.
Khi cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên tri thức, công nghệ và thương hiệu, việc chủ động xây dựng, bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ sẽ là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và phát triển bền vững.
Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu chứng kiến lễ ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Israel (Nguồn: VGP)
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
