Xuất khẩu nông sản và thực phẩm chế biến: Hóa giải "điểm nghẽn" để tạo bứt phá

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ hướng tới sự phát triển bền vững, ngành nông sản và thực phẩm chế biến Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng

Dư địa xuất khẩu lớn nhưng áp lực từ "hàng rào kỹ thuật" và tiêu chuẩn xanh

Phát biểu tại Hội nghị tập huấn “Nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế về ngành hàng lương thực - thực phẩm và sản phẩm nông nghiệp sau chế biến”, bà Hồ Thị Quyên - Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC) cho biết, ngành lương thực - thực phẩm và nông sản chế biến Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để mở rộng xuất khẩu, gia tăng giá trị và khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cả nước 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6%1 so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tại TP.HCM - trung tâm chế biến lương thực, thực phẩm lớn nhất cả nước, ngành này hiện chiếm khoảng 30-35% giá trị sản xuất của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và 14-15% giá trị sản xuất công nghiệp toàn thành phố. Trong quý I/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành lương thực, thực phẩm thành phố tăng 12%2, đứng thứ hai toàn ngành, góp phần đưa GRDP thành phố tăng 8,27% – mức cao nhất trong 5 năm gần đây.

Xuất khẩu nông sản và thực phẩm chế biến Hóa giải
 Bà Hồ Thị Quyên - Phó Giám đốc ITPC

Bên cạnh đó, các FTA thế hệ mới, đặc biệt là CPTPP đang tạo thêm lợi thế khi các nước thành viên cam kết xóa bỏ từ 97% đến 100% dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ Việt Nam. Tuy nhiên, theo Phó Giám đốc ITPC, ưu đãi thuế quan chỉ thành đơn hàng khi doanh nghiệp đáp ứng đúng chuẩn thị trường. Ngành sản phẩm nông nghiệp sau chế biến hiện còn một số điểm nghẽn như vùng nguyên liệu chưa ổn định, tỷ lệ chế biến sâu chưa cao, trong khi EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản ngày càng siết chặt tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc.

Dù vậy, dư địa xuất khẩu vẫn rất lớn, theo mục tiêu ngành nông nghiệp năm 2026, rau quả dự kiến đạt 9,81 tỷ USD (tăng 14,62%, sầu riêng là động lực chính), thủy sản hơn 12 tỷ USD và cà phê đạt 9,64 tỷ USD5 – đây là những nhóm hàng thành phố có lợi thế để khai thác qua chế biến sâu và nâng chuẩn chất lượng.

Với cam kết tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp qua các hoạt động tư vấn và kết nối giao thương, ITPC kỳ vọng rằng quá trình chuyển đổi từ “xuất khẩu thô” sang “định vị thương hiệu xanh” sẽ tạo động lực phát triển mạnh mẽ, đưa nông sản Việt vươn xa và phát triển bền vững trên bản đồ kinh tế quốc tế.

Xuất khẩu nông sản và thực phẩm chế biến Hóa giải
Dư địa xuất khẩu nông sản và thực phẩm chế biến còn rất lớn

Về tình hình chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm, Thạc sĩ Trần Thị Phương Hoa - Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP.HCM (FFA) cho rằng, hội nhập hiện nay không đơn thuần là mở rộng thị trường hay cạnh tranh bằng giá cả. Người tiêu dùng toàn cầu đã thay đổi tư duy là vừa quan tâm đến sản phẩm cuối cùng và vừa chú trọng đến quy trình doanh nghiệp tạo ra sản phẩm đó. Tính minh bạch, trách nhiệm với cộng đồng và cam kết phát triển bền vững chính là yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn mới.

Tại đây, Thạc sĩ Trần Thị Phương Hoa cũng nêu một số đề xuất nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi hệ thống lương thực - thực phẩm Việt Nam đến năm 2030 như tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm; tiếp tục xây dựng môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, năng cao năng lực và tạo giá trị tăng cao và chủ động chuyển đổi tư duy "thích ứng" sang tư duy "kiến tạo năng lực cạnh tranh dài hạn". 

Gỡ "điểm nghẽn" chế biến sâu và số hóa chuỗi giá trị

Đánh giá thêm về các rào cản kỹ thuật, Thạc sĩ Đặng Bùi Khuê - Cố vấn Cấp cao Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo SMP chia sẻ chi tiết về Hiệp định CPTPP. Ông lưu ý thực tế rằng mức thuế quan giảm về 0% có thể khiến doanh nghiệp thiếu đi sự chuẩn bị cần thiết, trong khi thách thức lớn nhất nằm ở các hàng rào kỹ thuật chặt chẽ. CPTPP không chỉ đòi hỏi kiểm dịch động thực vật (SPS) hay tiêu chuẩn kỹ thuật (TBT), mà còn ràng buộc pháp lý về quyền lao động theo chuẩn ILO, bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và nguồn nguyên liệu hợp pháp. Doanh nghiệp cần chuẩn bị nguồn lực tài chính phù hợp để đáp ứng chi phí kiểm nghiệm và chứng nhận quốc tế nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh.

Chia sẻ về giải pháp tiếp cận thị trường, bà Nguyễn Lê Gia Khánh - Quản lý Tài khoản cấp cao Amazon Global Selling Việt Nam đề xuất phương thức đưa nông sản Việt tiếp cận trực tiếp thị trường toàn cầu. Thực tế cho thấy Việt Nam dẫn đầu thế giới về xuất khẩu nhiều mặt hàng nhưng thương hiệu đôi khi chưa được nhận diện rõ nét do thường thông qua các nhà phân phối nước ngoài. Bằng việc tận dụng nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, doanh nghiệp có thể bán hàng trực tiếp (B2C) và tiếp cận trực tiếp dữ liệu người tiêu dùng. Giải pháp này đã được minh chứng qua câu chuyện của Rong nho Trường Thọ - một sản phẩm nội địa lọt top 9 trong danh mục bán chạy nhất trên Amazon và đạt mức tiêu thụ ổn định 1.000 sản phẩm/tháng.

Xuất khẩu nông sản và thực phẩm chế biến Hóa giải
Khách tham quan tại Triển lãm Quốc tế ngành Lương thực Thực phẩm TP.HCM vào tháng 4/2026

Trước những thách thức tiêu chuẩn xanh, Tiến sĩ Hoàng Văn Việt - Nhà Sáng lập và Chủ tịch Hội đồng Chiến lược, Cộng đồng Doanh nhân Trí thức Toàn câù (GIBA) đề xuất các giải pháp công nghệ mang tính định hướng. Ông nhấn mạnh thông điệp rằng tiêu chuẩn xanh hiện nay không còn là yếu tố mang tính hình thức, mà đã trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi. Khách hàng tại các thị trường phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải có dữ liệu minh chứng thực tế cho các cam kết xanh. Hướng đi bền vững là cần kết nối toàn bộ chuỗi giá trị: từ việc đảm bảo chất lượng tại vùng trồng, ứng dụng công nghệ chế biến sâu tại nhà máy, đến thương mại hóa hiệu quả trên thị trường.

Phân tích những thách thức trong việc duy trì tăng trưởng, Thạc sĩ Nguyễn Lý Trường An - Phó Giám đốc Công ty TNHH Vận chuyển Thương mại Biển Xanh cho biết, dù năm 2025 xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt mức cao, vượt mốc 70 tỷ USD, thực trạng ngành vẫn còn những hạn chế trong việc tối ưu hóa giá trị tài nguyên. Tỷ lệ chế biến sâu của ngành hiện ở mức khoảng 23%, điển hình như cà phê có tới 91% là xuất khẩu thô, khiến doanh nghiệp bỏ lỡ nhiều giá trị gia tăng. Bên cạnh đó, tỷ lệ hao hụt rau quả sau thu hoạch lên tới 20-30% cùng áp lực từ các rào cản phi thuế quan đang làm ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp.

Tin khác
Tỷ giá tăng sau ba tháng, áp lực cuối năm vẫn hiện hữu
Tỷ giá tăng sau ba tháng, áp lực cuối năm vẫn hiện hữu

Sau giai đoạn tăng mạnh từ cuối tháng 7 đến tháng 9/2026, tỷ giá trung tâm USD/VND đang có dấu hiệu ổn định và điều chỉnh nhẹ trong những phiên đầu tháng 11. Dù vậy, mặt bằng tỷ giá vẫn duy trì ở mức cao so với thời điểm cuối tháng 7, cho thấy áp lực từ thị trường ngoại hối chưa hoàn toàn hạ nhiệt trong bối cảnh nhu cầu ngoại tệ cuối năm gia tăng.

TP Hồ Chí Minh tăng tốc kích cầu tiêu dùng, tạo động lực tăng trưởng cuối năm
TP Hồ Chí Minh tăng tốc kích cầu tiêu dùng, tạo động lực tăng trưởng cuối năm

Với kỳ vọng tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế, TP Hồ Chí Minh tập trung triển khai kích cầu cuối năm và dịp Tết Nguyên đán, kết nối các hoạt động mua sắm, du lịch, văn hóa, giải trí và thương mại điện tử, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và phát triển thị trường.

Bài 1: Hàng Việt vào siêu thị: Vì sao doanh nghiệp nhỏ khó vượt qua cửa ngõ phân phối?
Bài 1: Hàng Việt vào siêu thị: Vì sao doanh nghiệp nhỏ khó vượt qua cửa ngõ phân phối?

Đưa hàng hóa vào hệ thống siêu thị và chuỗi bán lẻ hiện đại là mục tiêu của nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhằm mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu và tiếp cận người tiêu dùng. Tuy nhiên, để có mặt trên các kệ hàng, doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều yêu cầu về chất lượng, hồ sơ pháp lý, năng lực cung ứng và chi phí thương mại vẫn là những rào cản lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ.

Infographics: Gần 5,8 triệu tỷ đồng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 10 tháng
Infographics: Gần 5,8 triệu tỷ đồng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 10 tháng

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 10 tháng năm 2026, cả nước có 243.600 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 5,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh những chuyển động tích cực trong hoạt động gia nhập và mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Infographics: Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước 10 tháng năm 2026 tăng 19,8%
Infographics: Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước 10 tháng năm 2026 tăng 19,8%

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước ước đạt 783,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 69% kế hoạch năm và tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục được đẩy mạnh.

Kinh tế Việt Nam trước mục tiêu tăng trưởng hai con số: Đầu tư công tăng tốc, tiêu dùng cần cú hích
Kinh tế Việt Nam trước mục tiêu tăng trưởng hai con số: Đầu tư công tăng tốc, tiêu dùng cần cú hích

Giải ngân đầu tư công tăng mạnh, dòng vốn FDI duy trì đà tích cực và sản xuất công nghiệp mở rộng đang tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sức mua trong nước, áp lực lạm phát, thanh khoản hệ thống ngân hàng và những rủi ro từ chính sách thương mại của Mỹ vẫn là các vấn đề cần theo dõi khi Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2027.

Thu hút dòng vốn chất lượng cao, nâng tầm Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam
Thu hút dòng vốn chất lượng cao, nâng tầm Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam

Phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam không chỉ hướng đến thu hút vốn ngoại mà còn phải tạo lập hệ sinh thái kết nối các định chế tài chính, nhà đầu tư và doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy dòng vốn quốc tế tham gia sâu hơn vào nền kinh tế.

Sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng 12,4%, cao nhất cùng kỳ 8 năm
Sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng 12,4%, cao nhất cùng kỳ 8 năm

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 10 tháng năm 2026 tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019–2026. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ lực, với mức tăng 13%, đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc