Thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo phải đảm bảo các ràng buộc

Giai đoạn 2031-2045, năng lượng tái tạo sẽ đạt 156 GW và chiếm tỷ lệ 45% hệ thống nguồn điện vào 2045. Theo tính toán cơ cấu nguồn theo hướng phát triển mạnh điện gió, mặt trời, tăng điện khí sẽ đảm bảo an ninh năng lượng, nhưng vẫn đảm bảo các ràng buộc không tăng về chi phí đầu tư, giá điện.

Hạn chế xây thêm đường dây truyền tải liên miền

Mới đây, tại tọa đàm "Tháo gỡ điểm nghẽn phát triển năng lượng tái tạo" diễn ra ngày 22/12, ông Nguyễn Tuấn Anh - Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) đã có những chia sẻ về định hướng phát triển và cơ cấu trong Quy hoạch điện VIII.

Theo đó, Quy hoạch điện VIII dựa trên cơ sở cân đối điện vùng miền, tránh truyền tải đi xa, nên đến năm 2030 sẽ không xây thêm các đường dây truyền tải liên miền. Ở giai đoạn phát triển sau năm 2030, việc xây dựng mới các đường dây truyền tải liên miền sẽ "hạn chế" và đảm bảo dự phòng ở mức hợp lý, nhất là tại khu vực miền Bắc.

Cụ thể, Bản quy hoạch điện VIII sau nhiều chỉnh sửa, đang được Bộ Công Thương hoàn thiện, cập nhật và hiệu chỉnh lại các dữ liệu trên cơ sở đánh giá lại tình hình tăng trưởng phụ tải.

Thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo phải đảm bảo các ràng buộc
Sẽ hạn chế xây thêm đường dây truyền tải liên miền.

Ông Tuấn Anh cho biết, các đánh giá về phát triển nguồn điện vừa qua trong quá trình cập nhật, hoàn thiện dự thảo Quy hoạch điện lực quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045 (quy hoạch điện VIII) cho thấy, phát triển nguồn điện chưa phù hợp với sự phân bố, tăng trưởng phụ tải theo vùng miền.

Chẳng hạn, 5 năm qua (2016-2020), phụ tải ở khu vực miền Bắc tăng 9% mỗi năm, nhưng nguồn điện chỉ tăng 4,7% một năm. Trong khi đó, miền Trung và miền Nam tăng trưởng phụ tải chỉ 5-7% một năm, còn nguồn điện tăng trưởng gấp 3 mức tăng phụ tải (16-21% một năm). Mức tăng nguồn ấn tượng tại khu vực miền Trung, miền Nam có sự "góp sức" của năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời).

Điều này dẫn tới chênh lệch công suất đặt và công suất đỉnh tại các vùng miền, như tại miền Trung tỷ lệ chênh lệch lên tới 230%, còn miền Nam là 87%.

"Nhu cầu phụ tải giảm do Covid-19 và việc phát triển nhanh các nguồn năng lượng tái tạo tại miền Trung và Nam trong khi miền Bắc 1 số thời điểm thiếu nguồn, dẫn tới phải truyền tải từ Nam và miền Trung ra Bắc. Việc này khiến đường dây 500 kV Bắc - Nam trong một số thời điểm bị nghẽn", Phó cục trưởng Cục Điện lực & Năng lượng tái tạo thông tin.

Cùng với việc đánh giá lại nguồn tải khu vực vùng miền, thời gian qua, sau hội nghị COP26, thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ Công Thương đã rà soát, điều chỉnh lại chương trình phát triển nguồn điện theo một số hướng chính.

Trong đó, tính toán lại tính khả thi giảm nhiệt than, phát triển mạnh điện khí LNG để đảm bảo an ninh năng lượng và tăng cường khả năng hấp thụ nguồn năng lượng tái tạo, tiếp tục phát triển mạnh mẽ nguồn điện năng lượng tái tạo, nhất là điện gió trong thời gian tới.

Thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo phải đảm bảo các ràng buộc

Về cơ cấu nguồn điện, theo Phó cục trưởng Cục Điện lực & Năng lượng tái tạo, tỷ trọng điện than sẽ giảm, còn năng lượng tái tạo sẽ tăng mạnh từ sau năm 2030.

Cụ thể, đến năm 2030 tỷ trọng nguồn năng lượng tái tạo là 24% tổng công suất hệ thống, tương đương 38 GW. Trong đó, thủy điện 19%, nhiệt điện than 25%, nhiệt điện khí 25%; năng lượng tái tạo gồm điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối 25% (điện gió là 21 GW (gồm 5 GW điện gió ngoài khơi) và điện mặt trời là 16,5 GW). Đến năm 2045 cơ cấu thủy điện chiếm 14%; nhiệt điện than chiếm 11%; nhiệt điện khí 25%; nguồn năng lượng tái tạo chiếm 45%; nhập khẩu điện 3,3%.

Giai đoạn 2031-2045, năng lượng tái tạo sẽ đạt 156 GW và chiếm tỷ lệ 45% hệ thống nguồn điện vào 2045.

Thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo phải đảm bảo các ràng buộc
Đến năm 2045 năng lượng tái tạo sẽ đạt 156 GW và chiếm tỷ lệ 45% hệ thống nguồn điện vào 2045.

"Tính toán cơ cấu nguồn theo hướng phát triển mạnh điện gió, mặt trời, tăng điện khí sẽ đảm bảo an ninh năng lượng, nhưng vẫn đảm bảo các ràng buộc không tăng về chi phí đầu tư, giá điện", ông Tuấn Anh chia sẻ.

Theo các phương án Bộ Công Thương đang đưa ra, năm 2030, tổng vốn đầu tư nguồn điện sẽ giảm khoảng 30 tỷ USD so với phương án đưa ra hồi tháng 3 năm nay. Còn đến năm 2045, tổng vốn đầu tư giảm khoảng 4,2 tỷ USD.

Thừa nhận "bài toán quy hoạch nguồn điện trong dự thảo quy hoạch điện VIII hiện có nhiều thách thức", ông Tuấn Anh nói Bộ Công Thương đã rà soát, điều chỉnh lại phát triển nguồn điện tại dự thảo quy hoạch điện VIII trên cơ sở giảm nguồn điện than, tăng điện khí (nhất là khí LNG) và tăng khả năng hấp thụ của nguồn năng lượng tái tạo, nhất là điện gió.

Ở bản cập nhật mới nhất vào tháng 12 của dự thảo quy hoạch điện VIII, do nhu cầu phụ tải điện thay đổi nên tới năm 2030, tổng cơ cấu nguồn điện sẽ giảm hơn 11 tỷ kWh so với quy hoạch điện VII điều chỉnh. Cùng đó, dự thảo quy hoạch điện bỏ nguồn điện mặt trời ra khỏi dự phòng công suất quốc gia, nhưng vẫn đảm bảo an ninh cung cấp điện.

Theo tính toán thì đến năm 2030 dự phòng công suất toàn hệ thống điện tăng lên 46,5% và giảm về 45,1% vào năm 2045. Riêng tại miền Bắc, độ dự phòng công suất khá thấp, năm 2030 là hơn 18% và năm 2045 tăng lên 25%.

Tin liên quan
Tin khác
Kinh tế Việt Nam tăng tốc, lạm phát và lãi suất trở thành phép thử
Kinh tế Việt Nam tăng tốc, lạm phát và lãi suất trở thành phép thử

Tăng trưởng GDP Việt Nam quý III/2026 đạt 9,95%, đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%, trong bối cảnh sản xuất công nghiệp, đầu tư và xuất khẩu duy trì đà bứt phá. Tuy nhiên, CPI tháng 9 vượt 5%, trong khi áp lực huy động vốn và xu hướng thắt chặt tiền tệ toàn cầu có thể khiến mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao, thu hẹp dư địa điều hành chính sách trong quý cuối năm.

Bài 1: Sàn giao dịch nợ với bài toán thanh khoản thị trường
Bài 1: Sàn giao dịch nợ với bài toán thanh khoản thị trường

Nợ xấu tiếp tục tạo áp lực lên chất lượng tài sản và khả năng luân chuyển vốn của hệ thống ngân hàng. Sàn giao dịch nợ được kỳ vọng mở rộng đầu ra cho các khoản nợ, thu hút nhà đầu tư và khơi thông nguồn lực, dù vậy thì vấn đề thanh khoản vẫn sẽ là bài toán then chốt.

TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ

Từ siêu thị, trung tâm thương mại đến chợ truyền thống và các hộ kinh doanh nhỏ, thanh toán không dùng tiền mặt đang từng bước trở thành phương thức giao dịch quen thuộc tại TP Hồ Chí Minh. Cùng với sự chuyển dịch này, các cơ quan quản lý đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy thanh toán số phát triển rộng khắp.

Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc