Miễn thuế 3 năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: Cần ưu đãi đúng thời điểm?

Chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm được kỳ vọng tạo thêm dư địa tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, việc tính thời hạn ưu đãi từ khi đăng ký thành lập hay từ năm đầu tiên có lợi nhuận đang đặt ra những vấn đề cần cân nhắc về hiệu quả hỗ trợ, đặc thù ngành nghề và khả năng cân đối ngân sách.

Ba năm miễn thuế có thể chưa trùng với giai đoạn doanh nghiệp cần hỗ trợ nhất

Thành lập doanh nghiệp mới chỉ là bước khởi đầu của quá trình kinh doanh. Để tạo ra lợi nhuận, nhiều đơn vị phải trải qua thời gian đầu tư máy móc, xây dựng hệ thống vận hành, phát triển sản phẩm, tìm kiếm khách hàng và mở rộng thị trường. Trong giai đoạn này, chi phí vẫn phát sinh thường xuyên, trong khi doanh thu và hiệu quả kinh doanh chưa chắc đã ổn định.

Với những doanh nghiệp có vòng quay vốn nhanh, thời gian đầu hoạt động có thể đủ để hình thành doanh thu và thu nhập chịu thuế. Ngược lại, các doanh nghiệp sản xuất, công nghệ hoặc phát triển sản phẩm mới thường cần thời gian dài hơn để hoàn thiện quy trình, thương mại hóa sản phẩm và xây dựng thị trường.

Vì vậy, nếu thời hạn miễn thuế được tính từ thời điểm đăng ký thành lập, một phần hoặc toàn bộ thời gian ưu đãi có thể trôi qua khi doanh nghiệp chưa phát sinh thu nhập chịu thuế. Điều này đặt ra câu hỏi về mức độ phù hợp giữa thời hạn ưu đãi theo quy định và thời điểm doanh nghiệp thực sự có khả năng hưởng lợi.

Vấn đề được đặt ra trong quá trình Quốc hội thảo luận về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 29/10. Dự án luật được xây dựng theo định hướng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, thay vì chỉ tập trung vào các hình thức hỗ trợ đơn lẻ.

Miễn thuế 3 năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Cần ưu đãi đúng thời điểm
Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần chính sách thuế phù hợp để giảm áp lực chi phí, duy trì hoạt động và tạo dư địa đầu tư phát triển.

Tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Hữu Toàn, đoàn Lai Châu, đề xuất tính thời hạn miễn thuế 3 năm từ năm đầu tiên doanh nghiệp có lợi nhuận, thay vì từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu như phương án đang được áp dụng.

Đề xuất này hướng đến việc gắn chính sách ưu đãi với thời điểm doanh nghiệp bắt đầu có kết quả kinh doanh, qua đó tăng khả năng tận dụng ưu đãi thuế. Tuy nhiên, việc xác định mốc thời gian cũng cần được xem xét trên cơ sở thuật ngữ pháp lý rõ ràng, bởi lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế không phải lúc nào cũng đồng nhất.

Theo quy định hiện hành tại khoản 4 Điều 10 Nghị quyết số 198/2025/QH15 và khoản 3 Điều 7 Nghị định số 20/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm. Thời gian miễn thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.

Chính sách cũng quy định các trường hợp không thuộc diện ưu đãi, trong đó có một số doanh nghiệp thành lập mới do tổ chức lại hoặc chuyển đổi và trường hợp người quản lý, thành viên hợp danh hoặc người có phần vốn góp lớn nhất đã tham gia hoạt động tại doanh nghiệp khác trong khoảng thời gian được quy định.

Như vậy, phương án tính thời hạn miễn thuế từ năm đầu tiên có lợi nhuận hiện là đề xuất được nêu trong quá trình thảo luận, chưa phải quy định thay thế đã được thông qua. Việc áp dụng ưu đãi trên thực tế cần căn cứ vào văn bản pháp luật có hiệu lực và điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp.

Cân đối ngân sách và thiết kế ưu đãi theo nhu cầu thực tế

Thay đổi thời điểm bắt đầu ưu đãi có thể làm tăng số năm doanh nghiệp được hưởng miễn thuế tính từ thời điểm thành lập, qua đó ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách trong từng giai đoạn. Theo báo cáo giải trình số 879 được đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, đoàn Lâm Đồng, đề cập tại nghị trường, cơ quan soạn thảo đề nghị giữ phương án miễn thuế trong 3 năm đầu kể từ khi đăng ký thành lập.

Báo cáo được đại biểu dẫn lại cũng nêu ước tính ngân sách có thể giảm thu thêm khoảng 60.000-70.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2027-2030 nếu chuyển thời điểm miễn thuế sang giai đoạn doanh nghiệp phát sinh thu nhập chịu thuế.

Con số này cần được hiểu là ước tính gắn với phương án chính sách được xem xét, không phải khoản giảm thu ngân sách đã phát sinh hoặc kết quả đã được xác nhận. Tác động thực tế còn phụ thuộc vào phạm vi doanh nghiệp đủ điều kiện, thời điểm phát sinh thu nhập chịu thuế và cách thức triển khai chính sách.

Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh cho rằng cần đánh giá hiệu quả ưu đãi dựa trên mức độ hưởng lợi thực tế, thay vì chỉ nhìn vào số năm được miễn thuế. Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu xem xét tỷ lệ doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế trong thời gian ưu đãi, quy mô lợi ích nhận được và sự khác biệt giữa các ngành nghề, mô hình đầu tư.

Nếu áp dụng một mốc thời gian thống nhất, chính sách có ưu điểm là dễ xác định, thuận lợi cho quản lý và hạn chế phát sinh thủ tục phức tạp. Tuy nhiên, cách thiết kế này có thể chưa phản ánh đầy đủ khác biệt về chu kỳ đầu tư, thời gian phát triển sản phẩm và khả năng tạo doanh thu giữa các lĩnh vực.

Ở chiều ngược lại, nếu tính ưu đãi từ thời điểm doanh nghiệp có lợi nhuận hoặc thu nhập chịu thuế, cơ quan quản lý cần xác định rõ tiêu chí áp dụng, cách xử lý trường hợp doanh nghiệp có lãi kế toán nhưng không phát sinh thu nhập chịu thuế, cũng như cơ chế kiểm tra để hạn chế việc lợi dụng chính sách. Các quy định chuyển tiếp cũng cần được làm rõ nhằm bảo đảm tính thống nhất và khả năng dự đoán của pháp luật.

Một hướng tiếp cận khác là nghiên cứu cơ chế hỗ trợ có mục tiêu đối với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ hoặc những ngành có chu kỳ nghiên cứu, đầu tư dài. Việc phân tầng chính sách theo lĩnh vực, quy mô hoặc đặc điểm hoạt động có thể giúp nguồn lực hỗ trợ tập trung hơn, song cần đi kèm tiêu chí minh bạch và đánh giá định kỳ về hiệu quả.

Trong quá trình hoàn thiện dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc cân đối giữa mục tiêu hỗ trợ khu vực doanh nghiệp với yêu cầu bảo đảm nguồn thu ngân sách sẽ tiếp tục là vấn đề cần được xem xét. Một chính sách ưu đãi hiệu quả không chỉ được đo bằng thời gian miễn thuế, mà còn ở khả năng giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn đầu tư ban đầu, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Tin khác
Tỷ giá tăng sau ba tháng, áp lực cuối năm vẫn hiện hữu
Tỷ giá tăng sau ba tháng, áp lực cuối năm vẫn hiện hữu

Sau giai đoạn tăng mạnh từ cuối tháng 7 đến tháng 9/2026, tỷ giá trung tâm USD/VND đang có dấu hiệu ổn định và điều chỉnh nhẹ trong những phiên đầu tháng 11. Dù vậy, mặt bằng tỷ giá vẫn duy trì ở mức cao so với thời điểm cuối tháng 7, cho thấy áp lực từ thị trường ngoại hối chưa hoàn toàn hạ nhiệt trong bối cảnh nhu cầu ngoại tệ cuối năm gia tăng.

TP Hồ Chí Minh tăng tốc kích cầu tiêu dùng, tạo động lực tăng trưởng cuối năm
TP Hồ Chí Minh tăng tốc kích cầu tiêu dùng, tạo động lực tăng trưởng cuối năm

Với kỳ vọng tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế, TP Hồ Chí Minh tập trung triển khai kích cầu cuối năm và dịp Tết Nguyên đán, kết nối các hoạt động mua sắm, du lịch, văn hóa, giải trí và thương mại điện tử, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và phát triển thị trường.

Bài 1: Hàng Việt vào siêu thị: Vì sao doanh nghiệp nhỏ khó vượt qua cửa ngõ phân phối?
Bài 1: Hàng Việt vào siêu thị: Vì sao doanh nghiệp nhỏ khó vượt qua cửa ngõ phân phối?

Đưa hàng hóa vào hệ thống siêu thị và chuỗi bán lẻ hiện đại là mục tiêu của nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhằm mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu và tiếp cận người tiêu dùng. Tuy nhiên, để có mặt trên các kệ hàng, doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều yêu cầu về chất lượng, hồ sơ pháp lý, năng lực cung ứng và chi phí thương mại vẫn là những rào cản lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ.

Infographics: Gần 5,8 triệu tỷ đồng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 10 tháng
Infographics: Gần 5,8 triệu tỷ đồng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 10 tháng

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 10 tháng năm 2026, cả nước có 243.600 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 5,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh những chuyển động tích cực trong hoạt động gia nhập và mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Infographics: Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước 10 tháng năm 2026 tăng 19,8%
Infographics: Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước 10 tháng năm 2026 tăng 19,8%

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước ước đạt 783,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 69% kế hoạch năm và tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục được đẩy mạnh.

Kinh tế Việt Nam trước mục tiêu tăng trưởng hai con số: Đầu tư công tăng tốc, tiêu dùng cần cú hích
Kinh tế Việt Nam trước mục tiêu tăng trưởng hai con số: Đầu tư công tăng tốc, tiêu dùng cần cú hích

Giải ngân đầu tư công tăng mạnh, dòng vốn FDI duy trì đà tích cực và sản xuất công nghiệp mở rộng đang tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sức mua trong nước, áp lực lạm phát, thanh khoản hệ thống ngân hàng và những rủi ro từ chính sách thương mại của Mỹ vẫn là các vấn đề cần theo dõi khi Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2027.

Thu hút dòng vốn chất lượng cao, nâng tầm Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam
Thu hút dòng vốn chất lượng cao, nâng tầm Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam

Phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam không chỉ hướng đến thu hút vốn ngoại mà còn phải tạo lập hệ sinh thái kết nối các định chế tài chính, nhà đầu tư và doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy dòng vốn quốc tế tham gia sâu hơn vào nền kinh tế.

Sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng 12,4%, cao nhất cùng kỳ 8 năm
Sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng 12,4%, cao nhất cùng kỳ 8 năm

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 10 tháng năm 2026 tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019–2026. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ lực, với mức tăng 13%, đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc