Ba năm miễn thuế có thể chưa trùng với giai đoạn doanh nghiệp cần hỗ trợ nhất
Thành lập doanh nghiệp mới chỉ là bước khởi đầu của quá trình kinh doanh. Để tạo ra lợi nhuận, nhiều đơn vị phải trải qua thời gian đầu tư máy móc, xây dựng hệ thống vận hành, phát triển sản phẩm, tìm kiếm khách hàng và mở rộng thị trường. Trong giai đoạn này, chi phí vẫn phát sinh thường xuyên, trong khi doanh thu và hiệu quả kinh doanh chưa chắc đã ổn định.
Với những doanh nghiệp có vòng quay vốn nhanh, thời gian đầu hoạt động có thể đủ để hình thành doanh thu và thu nhập chịu thuế. Ngược lại, các doanh nghiệp sản xuất, công nghệ hoặc phát triển sản phẩm mới thường cần thời gian dài hơn để hoàn thiện quy trình, thương mại hóa sản phẩm và xây dựng thị trường.
Vì vậy, nếu thời hạn miễn thuế được tính từ thời điểm đăng ký thành lập, một phần hoặc toàn bộ thời gian ưu đãi có thể trôi qua khi doanh nghiệp chưa phát sinh thu nhập chịu thuế. Điều này đặt ra câu hỏi về mức độ phù hợp giữa thời hạn ưu đãi theo quy định và thời điểm doanh nghiệp thực sự có khả năng hưởng lợi.
Vấn đề được đặt ra trong quá trình Quốc hội thảo luận về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 29/10. Dự án luật được xây dựng theo định hướng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, thay vì chỉ tập trung vào các hình thức hỗ trợ đơn lẻ.
Tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Hữu Toàn, đoàn Lai Châu, đề xuất tính thời hạn miễn thuế 3 năm từ năm đầu tiên doanh nghiệp có lợi nhuận, thay vì từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu như phương án đang được áp dụng.
Đề xuất này hướng đến việc gắn chính sách ưu đãi với thời điểm doanh nghiệp bắt đầu có kết quả kinh doanh, qua đó tăng khả năng tận dụng ưu đãi thuế. Tuy nhiên, việc xác định mốc thời gian cũng cần được xem xét trên cơ sở thuật ngữ pháp lý rõ ràng, bởi lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế không phải lúc nào cũng đồng nhất.
Theo quy định hiện hành tại khoản 4 Điều 10 Nghị quyết số 198/2025/QH15 và khoản 3 Điều 7 Nghị định số 20/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm. Thời gian miễn thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.
Chính sách cũng quy định các trường hợp không thuộc diện ưu đãi, trong đó có một số doanh nghiệp thành lập mới do tổ chức lại hoặc chuyển đổi và trường hợp người quản lý, thành viên hợp danh hoặc người có phần vốn góp lớn nhất đã tham gia hoạt động tại doanh nghiệp khác trong khoảng thời gian được quy định.
Như vậy, phương án tính thời hạn miễn thuế từ năm đầu tiên có lợi nhuận hiện là đề xuất được nêu trong quá trình thảo luận, chưa phải quy định thay thế đã được thông qua. Việc áp dụng ưu đãi trên thực tế cần căn cứ vào văn bản pháp luật có hiệu lực và điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp.
Cân đối ngân sách và thiết kế ưu đãi theo nhu cầu thực tế
Thay đổi thời điểm bắt đầu ưu đãi có thể làm tăng số năm doanh nghiệp được hưởng miễn thuế tính từ thời điểm thành lập, qua đó ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách trong từng giai đoạn. Theo báo cáo giải trình số 879 được đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, đoàn Lâm Đồng, đề cập tại nghị trường, cơ quan soạn thảo đề nghị giữ phương án miễn thuế trong 3 năm đầu kể từ khi đăng ký thành lập.
Báo cáo được đại biểu dẫn lại cũng nêu ước tính ngân sách có thể giảm thu thêm khoảng 60.000-70.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2027-2030 nếu chuyển thời điểm miễn thuế sang giai đoạn doanh nghiệp phát sinh thu nhập chịu thuế.
Con số này cần được hiểu là ước tính gắn với phương án chính sách được xem xét, không phải khoản giảm thu ngân sách đã phát sinh hoặc kết quả đã được xác nhận. Tác động thực tế còn phụ thuộc vào phạm vi doanh nghiệp đủ điều kiện, thời điểm phát sinh thu nhập chịu thuế và cách thức triển khai chính sách.
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh cho rằng cần đánh giá hiệu quả ưu đãi dựa trên mức độ hưởng lợi thực tế, thay vì chỉ nhìn vào số năm được miễn thuế. Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu xem xét tỷ lệ doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế trong thời gian ưu đãi, quy mô lợi ích nhận được và sự khác biệt giữa các ngành nghề, mô hình đầu tư.
Nếu áp dụng một mốc thời gian thống nhất, chính sách có ưu điểm là dễ xác định, thuận lợi cho quản lý và hạn chế phát sinh thủ tục phức tạp. Tuy nhiên, cách thiết kế này có thể chưa phản ánh đầy đủ khác biệt về chu kỳ đầu tư, thời gian phát triển sản phẩm và khả năng tạo doanh thu giữa các lĩnh vực.
Ở chiều ngược lại, nếu tính ưu đãi từ thời điểm doanh nghiệp có lợi nhuận hoặc thu nhập chịu thuế, cơ quan quản lý cần xác định rõ tiêu chí áp dụng, cách xử lý trường hợp doanh nghiệp có lãi kế toán nhưng không phát sinh thu nhập chịu thuế, cũng như cơ chế kiểm tra để hạn chế việc lợi dụng chính sách. Các quy định chuyển tiếp cũng cần được làm rõ nhằm bảo đảm tính thống nhất và khả năng dự đoán của pháp luật.
Một hướng tiếp cận khác là nghiên cứu cơ chế hỗ trợ có mục tiêu đối với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ hoặc những ngành có chu kỳ nghiên cứu, đầu tư dài. Việc phân tầng chính sách theo lĩnh vực, quy mô hoặc đặc điểm hoạt động có thể giúp nguồn lực hỗ trợ tập trung hơn, song cần đi kèm tiêu chí minh bạch và đánh giá định kỳ về hiệu quả.
Trong quá trình hoàn thiện dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc cân đối giữa mục tiêu hỗ trợ khu vực doanh nghiệp với yêu cầu bảo đảm nguồn thu ngân sách sẽ tiếp tục là vấn đề cần được xem xét. Một chính sách ưu đãi hiệu quả không chỉ được đo bằng thời gian miễn thuế, mà còn ở khả năng giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn đầu tư ban đầu, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
