Kinh tế Việt Nam tăng tốc, lạm phát và lãi suất trở thành phép thử

Tăng trưởng GDP Việt Nam quý III/2026 đạt 9,95%, đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%, trong bối cảnh sản xuất công nghiệp, đầu tư và xuất khẩu duy trì đà bứt phá. Tuy nhiên, CPI tháng 9 vượt 5%, trong khi áp lực huy động vốn và xu hướng thắt chặt tiền tệ toàn cầu có thể khiến mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao, thu hẹp dư địa điều hành chính sách trong quý cuối năm.

Tăng trưởng bứt phá nhờ sản xuất và đầu tư

Theo báo cáo vĩ mô của Chứng khoán Yuanta Việt Nam (YSVN), kinh tế Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng cao trong quý III/2026. GDP tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Tính chung 9 tháng năm 2026, GDP tăng 9,01%.

Diễn biến tăng trưởng qua các quý cho thấy tốc độ tăng GDP tiếp tục được cải thiện trong năm nay. Trong đó, kết quả quý III cao hơn hai quý đầu năm, góp phần đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên trên 9%.

Kinh tế Việt Nam tăng tốc lạm phát và lãi suất trở thành phép thử

Xét theo khu vực kinh tế, Công nghiệp và xây dựng cùng dịch vụ là hai khu vực đóng góp chủ yếu vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế trong 9 tháng. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng cao nhất 11,21%, đóng góp 49,62% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%, trong khi nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35%.

Ở lĩnh vực sản xuất, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 9, chỉ số này tăng 16,7%. Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất tháng 9 đạt 51,9 điểm, tiếp tục nằm trên ngưỡng 50 điểm.

Hoạt động đầu tư cũng ghi nhận mức tăng đáng kể. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 9 tháng đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ. Đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tổng vốn đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%; vốn thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%.

Trong cơ cấu vốn FDI thực hiện, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 82,6%. Tỷ trọng này cho thấy phần lớn vốn FDI thực hiện trong kỳ tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo, trong bối cảnh công nghiệp và xây dựng tiếp tục là khu vực đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP.

Ở lĩnh vực tiêu dùng, doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 13,4% theo giá danh nghĩa và tăng 7,8% theo giá thực tế. Mức tăng theo giá thực tế thấp hơn mức tăng danh nghĩa, phản ánh sự khác biệt giữa doanh thu tính theo giá hiện hành và sau khi loại trừ yếu tố giá.

Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục mở rộng. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng đạt khoảng 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đà tăng của sản xuất công nghiệp và đầu tư, thương mại hàng hóa là một trong những lĩnh vực ghi nhận mức tăng đáng kể trong kỳ báo cáo.

CPI vượt 5%, áp lực lãi suất gia tăng

Bên cạnh kết quả tăng trưởng tích cực, diễn biến giá cả là vấn đề đáng chú ý trong báo cáo vĩ mô tháng 9. CPI tháng 9/2026 tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước. Tính bình quân 9 tháng, CPI tăng 4,52%, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,26%.

Nhóm giao thông tăng 3,97% so với tháng trước, đóng góp 0,40 điểm phần trăm vào mức tăng CPI chung, chủ yếu do giá xăng tăng 9,39% và giá dầu diesel tăng 4,53% theo diễn biến giá thế giới. Nhóm giáo dục tăng 1,41% so với tháng trước do điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục và nhu cầu đầu năm học. Trong khi đó, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,28%.

CPI tháng 9 tăng 5,08% so với cùng kỳ, đưa áp lực lạm phát từ mức cần theo dõi lên thành vấn đề hiện hữu. Dù lạm phát cơ bản chưa tăng mạnh, diễn biến giá dầu, chi phí vận tải, giá vật liệu xây dựng cùng tiến độ đầu tư công được đẩy nhanh có thể khiến CPI tiếp tục duy trì ở mức cao trong quý IV.

Kinh tế Việt Nam tăng tốc lạm phát và lãi suất trở thành phép thử
CPI vượt 5% trở lại trong tháng 9

Trên thị trường tiền tệ, rrong tháng 9, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hút ròng 86,8 nghìn tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), đảo chiều so với mức bơm ròng 60,2 nghìn tỷ đồng trong tháng 8. Hoạt động này diễn ra trong bối cảnh NHNN tiếp tục điều tiết thanh khoản ngắn hạn và cân đối mục tiêu ổn định tỷ giá, đặc biệt khi đồng USD mạnh lên trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, hút ròng qua OMO không đồng nghĩa thanh khoản liên ngân hàng luôn căng thẳng, bởi lãi suất ngắn hạn vẫn có những thời điểm giảm sâu trong tháng.

Lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh và phân hóa giữa các kỳ hạn. Lãi suất qua đêm có thời điểm tăng lên gần 7%, sau khi giảm xuống dưới 1% trong một số phiên. Kết thúc tháng 9, lãi suất qua đêm ở mức 6,95%, kỳ hạn 1 tuần ở mức 6,88% và 2 tuần ở mức 6,26%. Trong khi đó, lãi suất các kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng lần lượt giảm 10, 63 và 74 điểm cơ bản, xuống tương ứng 6,37%, 6,63% và 7,54%.

Trong tháng 9, NHNN ban hành Thông tư 50/2026/TT-NHNN, với các quy định tiệm cận chuẩn Basel III. Thông tư nâng trần tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) từ 85% lên 95%, đồng thời bổ sung tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR). Tuy nhiên, cơ chế mới chủ yếu được triển khai theo lộ trình từ tháng 10/2028, nên chưa trực tiếp nới lỏng điều kiện thanh khoản của hệ thống trong ngắn hạn. Về dài hạn, quy định này có thể tạo dư địa sử dụng vốn linh hoạt hơn cho các ngân hàng có nguồn huy động ổn định, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị rủi ro thanh khoản và cân đối kỳ hạn giữa tài sản với nguồn vốn.

Áp lực huy động vốn tiếp tục hiện hữu trong bối cảnh tín dụng tăng trưởng. Tính đến cuối tháng 9, tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025. Khi nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục mở rộng, các ngân hàng thương mại cần duy trì nguồn huy động ổn định để đáp ứng nhu cầu tín dụng và bảo đảm cân đối kỳ hạn. Điều này góp phần lý giải việc lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức tương đối cao, bất chấp những giai đoạn thanh khoản ngắn hạn được cải thiện.

Nhìn chung, thanh khoản liên ngân hàng trong tháng 9 chịu áp lực hơn so với tháng 8, đặc biệt vào thời điểm cuối quý khi nhu cầu thanh toán và cân đối nguồn vốn gia tăng. Bước sang tháng 10, yếu tố mùa vụ giảm bớt đã giúp lãi suất ngắn hạn hạ nhiệt. Tuy nhiên, nhu cầu tín dụng trong quý 4, áp lực huy động vốn và rủi ro tỷ giá trong bối cảnh chính sách tiền tệ toàn cầu thắt chặt trở lại sẽ khiến mặt bằng lãi suất tiếp tục duy trì ở mức cao.

Tỷ giá còn ổn định nhưng dư địa điều hành thu hẹp

Về thị trường ngoại hối, đồng USD tăng mạnh trong tháng 9 khi Fed và một số ngân hàng trung ương lớn chuyển sang thắt chặt chính sách tiền tệ. Fed tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản, lên mức 3,75–4,00%, trong bối cảnh áp lực lạm phát gia tăng. Kỳ vọng lãi suất duy trì ở mức cao đã hỗ trợ chỉ số DXY tăng 2,03% trong tháng, lên 101,45 điểm, đồng thời tạo thêm sức ép đối với các đồng tiền tại thị trường mới nổi.

Trái với đà tăng của USD trên thị trường quốc tế, tỷ giá USD/VND trong nước nhìn chung ổn định. Cuối tháng 9, tỷ giá trung tâm đạt 25.627 VND/USD, tăng nhẹ 0,06% so với cuối tháng 8. Trong khi đó, tỷ giá mua và bán tại các ngân hàng thương mại lần lượt giảm 0,39% và 0,38%, xuống 25.750 VND/USD và 26.160 VND/USD. Tỷ giá trên thị trường tự do cũng giảm 0,12%, xuống 25.900 VND/USD.

Trên thị trường vàng, giá vàng thế giới giảm 6,31% trong tháng 9, xuống 4.157 USD/ounce, trong bối cảnh đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ tăng. Cùng chiều, giá vàng miếng SJC bán ra giảm 4,17%, xuống 142,5 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá thế giới quy đổi ở mức âm 2,0%, cho thấy mức chiết khấu đã thu hẹp so với tháng trước.

Theo đánh giá trong báo cáo, tỷ giá USD/VND trong ngắn hạn nhiều khả năng tiếp tục ổn định, dù áp lực đang gia tăng. Nguồn cung ngoại tệ trong nước và trạng thái cung – cầu tương đối cân bằng tiếp tục hỗ trợ đồng Việt Nam. Tuy nhiên, xu hướng tăng giá của USD, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD cùng nhu cầu ngoại tệ vào cuối năm có thể tạo sức ép lên tỷ giá, qua đó hạn chế dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.

Kinh tế Việt Nam tăng tốc lạm phát và lãi suất trở thành phép thử
Lãi suất liên ngân hàng nhìn chung biến động và phân hóa giữa các kỳ hạn

Nhìn chung, kết quả tăng trưởng 9 tháng năm 2026 tạo nền tảng tích cực cho quý IV, song mục tiêu tăng trưởng hai chữ số cả năm vẫn là thách thức khi CPI đã vượt 5%, Fed tăng lãi suất, điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt hơn và rủi ro thương mại với Mỹ chưa hoàn toàn được tháo gỡ. YSVN dự báo GDP cả năm tăng khoảng 9,3%, cao hơn đáng kể so với kỳ vọng trước đó, nhờ ba động lực chính gồm sản xuất công nghiệp hưởng lợi từ chu kỳ điện tử – AI, FDI và đầu tư công tăng tốc, cùng sự phục hồi của khu vực dịch vụ. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, tỷ giá và tính bền vững của đơn hàng xuất khẩu vẫn là những rủi ro cần theo dõi trong những tháng cuối năm.

Tin khác
Bài 1: Sàn giao dịch nợ với bài toán thanh khoản thị trường
Bài 1: Sàn giao dịch nợ với bài toán thanh khoản thị trường

Nợ xấu tiếp tục tạo áp lực lên chất lượng tài sản và khả năng luân chuyển vốn của hệ thống ngân hàng. Sàn giao dịch nợ được kỳ vọng mở rộng đầu ra cho các khoản nợ, thu hút nhà đầu tư và khơi thông nguồn lực, dù vậy thì vấn đề thanh khoản vẫn sẽ là bài toán then chốt.

TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ

Từ siêu thị, trung tâm thương mại đến chợ truyền thống và các hộ kinh doanh nhỏ, thanh toán không dùng tiền mặt đang từng bước trở thành phương thức giao dịch quen thuộc tại TP Hồ Chí Minh. Cùng với sự chuyển dịch này, các cơ quan quản lý đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy thanh toán số phát triển rộng khắp.

Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc