Giá thép trên sàn giao dịch
Trên sàn giao dịch tương lai Thượng Hải (SHFE), giá thép cây giao tháng 8/2026 tăng 18 Nhân dân tệ, lên mức 3.199 Nhân dân tệ/tấn. Diễn biến này phản ánh tâm lý thận trọng nhưng vẫn có phần tích cực của thị trường trước các tín hiệu hỗ trợ chính sách, dù nền tảng cung – cầu chưa thực sự cải thiện rõ rệt.
Ở chiều ngược lại, giá quặng sắt kỳ hạn giảm nhẹ khi mặt bằng giá duy trì ở mức cao trong bối cảnh biên lợi nhuận thấp tiếp tục làm suy yếu nhu cầu mua vào của các nhà máy thép tại Trung Quốc – quốc gia tiêu thụ thép lớn nhất thế giới.
Cụ thể, hợp đồng quặng sắt tháng 5, được giao dịch nhiều nhất trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên (DCE), giảm 0,43% xuống còn 812,5 Nhân dân tệ/tấn (tương đương 116,64 USD/tấn). Tính từ đầu tuần đến nay, hợp đồng này đã giảm tổng cộng 0,25%. Trên sàn giao dịch Singapore, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 2 cũng giảm 0,34%, xuống còn 106,7 USD/tấn.
Theo dữ liệu do Mysteel công bố ngày 15/1, tổng lượng tồn kho quặng sắt nhập khẩu tại các cảng lớn của Trung Quốc đã tăng tuần thứ tám liên tiếp, lên mức cao kỷ lục 165,6 triệu tấn. Diễn biến này tiếp tục tạo sức ép lên giá quặng sắt trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ chưa có dấu hiệu phục hồi rõ ràng.
Tuy nhiên, tồn kho quặng sắt tại các nhà máy thép lại giảm 2,1% so với tuần trước, trong khi khối lượng giao dịch quặng sắt tại các cảng giảm mạnh 20,3%. Điều này phản ánh tâm lý thận trọng của các nhà sản xuất thép, khi giá nguyên liệu vẫn cao nhưng biên lợi nhuận bị thu hẹp, khiến doanh nghiệp hạn chế tích trữ.
Về phía nguồn cung, hai tập đoàn khai thác khoáng sản hàng đầu thế giới là Rio Tinto và BHP cho biết đã hợp tác khai thác tới 200 triệu tấn quặng sắt từ hai khu vực liền kề tại vùng Pilbara, Tây Úc. Đồng thời, lượng quặng sắt xuất khẩu sang Trung Quốc đã đạt mức cao kỷ lục trong tháng 12 và được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong năm 2026, làm gia tăng áp lực dư cung trong trung hạn.
Theo nhận định của công ty môi giới Galaxy Futures (Trung Quốc), trong bối cảnh nhu cầu thép nội địa suy yếu và các yếu tố cơ bản kém tích cực hơn, giá quặng sắt nhiều khả năng sẽ tiếp tục chịu áp lực giảm trong trung hạn, bất chấp những nhịp hồi ngắn hạn.
Ở chiều hỗ trợ, thị trường nhận được tín hiệu tích cực từ chính sách tiền tệ khi Ngân hàng Trung ương Trung Quốc cho biết sẽ cắt giảm lãi suất đối với một số công cụ chính sách tiền tệ mang tính cấu trúc, đồng thời hạ lãi suất các khoản vay tái cấp vốn kỳ hạn một năm. Nhà điều hành này cũng nhấn mạnh vẫn còn dư địa để tiếp tục giảm lãi suất trong năm nay, qua đó góp phần cải thiện điều kiện tín dụng và nâng cao khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư.
Dù vậy, các nguyên liệu đầu vào khác của ngành thép trên sàn DCE vẫn ghi nhận xu hướng suy yếu, với giá than cốc và than luyện cốc giảm lần lượt 1,09% và 1,29%. Trên sàn SHFE, diễn biến giá thép thành phẩm có sự phân hóa khi thép thanh cốt thép tăng nhẹ 0,16%, thép cuộn cán nóng tăng 0,36%, thép dây tăng 0,46%, trong khi thép không gỉ giảm 0,1%.
Thị trường trong nước
Tại thị trường trong nước, theo dữ liệu từ SteelOnline, giá bán lẻ thép xây dựng tại cả ba miền tiếp tục đi ngang, chưa ghi nhận điều chỉnh mới từ các doanh nghiệp sản xuất lớn.
Ở miền Bắc, thép Hòa Phát hiện niêm yết thép cuộn CB240 ở mức 13.800 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.600 đồng/kg. Thép Việt Ý báo giá thép cuộn CB240 ở mức 13.690 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.380 đồng/kg. Thép Việt Đức hiện niêm yết thép cuộn CB240 ở mức 13.500 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.300 đồng/kg. Thép Việt Sing có giá thép cuộn CB240 ở mức 13.640 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.430 đồng/kg. Trong khi đó, thép VAS niêm yết thép cuộn CB240 ở mức 13.530 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.130 đồng/kg.
Tại miền Trung, thép Hòa Phát duy trì giá thép cuộn CB240 ở mức 13.800 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.600 đồng/kg. Thép Việt Đức hiện báo giá thép cuộn CB240 ở mức 13.950 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.550 đồng/kg. Thép VAS tiếp tục giữ giá thép cuộn CB240 ở mức 13.640 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.130 đồng/kg.
Tại miền Nam, thép Hòa Phát vẫn giữ giá thép cuộn CB240 ở mức 13.800 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.600 đồng/kg. Thép VAS niêm yết thép cuộn CB240 ở mức 13.530 đồng/kg, trong khi thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.130 đồng/kg.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn

