Giá cà phê hôm nay
Tại thị trường trong nước, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 88.700 – 89.300 đồng/kg, giảm từ 2.800 – 3.200 đồng/kg so với tuần trước và chính thức xuống dưới mốc 90.000 đồng/kg. Cụ thể, Đắk Nông ghi nhận mức 89.300 đồng/kg, giảm 3.200 đồng/kg nhưng vẫn là địa phương có giá cao nhất khu vực. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cùng giảm 3.100 đồng/kg, xuống mức 89.200 đồng/kg. Lâm Đồng giảm 2.800 đồng/kg, còn 88.700 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê tiếp tục giảm trên cả hai sàn giao dịch. Tại London, giá robusta kỳ hạn tháng 5/2026 đạt 3.448 USD/tấn, giảm 145 USD/tấn, tương đương 4%; hợp đồng tháng 7/2026 giảm 170 USD/tấn, tương đương 4,8%, xuống còn 3.346 USD/tấn. Tại New York, giá arabica kỳ hạn tháng 5/2026 đạt 295,4 US cent/pound, giảm 6,3 US cent/pound (2,1%); kỳ hạn tháng 7/2026 đạt 289,4 US cent/pound, giảm 6,5 US cent/pound (2,2%).
Giá cà phê arabica tăng cao đã vượt qua các dự báo về một vụ mùa 2026-2027 bội thu tại Brazil. Đây có thể sẽ là vụ thu hoạch kỷ lục đầu tiên của nước này sau 5 mùa liên tiếp sản lượng thấp hơn tiềm năng. Đối với robusta, chỉ số CEPEA/ESALQ cho loại 6, sàng 13 tại Espírito Santo đạt trung bình 1.021,92 BRL mỗi bao 60 kg trong tháng 3, giảm 3,97% so với tháng 2. Vụ thu hoạch đang đến gần và nguồn cung nhỉnh hơn đã dẫn đến xu hướng giảm giá của cà phê robusta.
Giá cà phê robusta trên thị trường thế giới gần đây cũng chịu áp lực bởi xuất khẩu tăng mạnh từ Việt Nam – quốc gia sản xuất robusta lớn nhất thế giới. Dữ liệu của được công bố bởi Tổng cục Thống kê cho thấy Việt Nam đã xuất khẩu 585.000 tấn cà phê trong quý I, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn này giảm 5%, xuống còn 2,75 tỷ USD. Riêng trong tháng 3, cả nước đã xuất khẩu 217.000 tấn cà phê, với giá trị đạt 990 triệu USD.
Giá hồ tiêu hôm nay
Tại thị trường trong nước, giá tiêu dao động trong khoảng 138.000 – 139.000 đồng/kg, giảm từ 1.000 – 1.500 đồng/kg so với tuần trước. Giá thu mua tại Đắk Lắk và Đắk Nông cùng ở mức 139.000 đồng/kg. Bà Rịa – Vũng Tàu ở mức 138.500 đồng/kg, trong khi Gia Lai và Đồng Nai phổ biến ở mức 138.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá tiêu đen Indonesia đạt 7.115 USD/tấn, tăng 110 USD/tấn (1,57%); tiêu đen Brazil ASTA 570 đạt 6.150 USD/tấn, tăng 50 USD/tấn (0,82%); tiêu đen Malaysia giữ mức 9.300 USD/tấn. Ở chiều ngược lại, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam giảm 300 USD/tấn, xuống còn 6.000 – 6.100 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
Đối với tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia đạt 9.374 USD/tấn, tăng 100 USD/tấn; giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam giảm 150 USD/tấn, xuống còn 8.900 USD/tấn; Malaysia giữ mức 12.200 USD/tấn.
Theo thống kê bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong tháng 3/2026, Việt Nam xuất khẩu được 30.638 tấn hồ tiêu các loại, tiêu đen đạt 26.190tấn, tiêu trắng đạt 4.448 tấn. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 199,3 triệu USD, tiêu đen đạt 167,3 triệu USD, tiêu trắng đạt 32,0 triệu USD, so với tháng 2 lượng xuất khẩu tăng 119,3% và so với cùng kỳ tháng 3/2025 lượng xuất khẩu tăng 51,3%.
Giá xuất khẩu bình quân tiêu đen trong tháng 3 đạt 6.520 USD/tấn, tiêu trắng đạt 8.735 USD/tấn, giảm 0,7% đối với tiêu đen và tăng 1,0% đối với tiêu trắng so với tháng trước.
Giá lúa gạo hôm nay
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa tươi tiếp tục đi ngang. Lúa OM 18 dao động ở mức 5.700 – 5.800 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 5.700 – 5.750 đồng/kg; IR 50404 ở mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 5451 ở mức 5.400 – 5.600 đồng/kg; OM 34 ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg.
Đối với mặt hàng gạo, gạo nguyên liệu CL555 dao động 8.050 – 8.100 đồng/kg; OM 5451 ở mức 8.450 – 8.550 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 – 9.400 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Sóc thơm ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, gạo các loại đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 400 - 445 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động từ 329 - 333 USD/tấn; gạo Jasmine dao động ở mức 435 - 439 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm xuất khẩu dao động 336 - 370 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 349 - 353 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán dao động 335 - 339 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 283 - 287 USD/tấn.
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp Quốc, giá lương thực toàn cầu đã tăng trong tháng 3, chủ yếu do giá năng lượng cao hơn và chi phí vận tải gia tăng liên quan đến xung đột tại Trung Đông.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
