Giá tiêu hôm nay 30/7: Tăng phiên thứ hai liên tiếp
Khảo sát sáng 30/7 cho thấy thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục duy trì xu hướng tăng. Giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm tăng từ 500 - 1.000 đồng/kg so với hôm qua, đưa mặt bằng giá lên 139.000 - 142.000 đồng/kg.
Đắk Nông (thuộc tỉnh Lâm Đồng sau sắp xếp đơn vị hành chính) tiếp tục là địa phương có giá cao nhất cả nước khi tăng thêm 500 đồng/kg, lên 142.000 đồng/kg.
Đắk Lắk ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong phiên, tăng 1.000 đồng/kg lên 141.000 đồng/kg. Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP.HCM) tăng 500 đồng/kg lên 139.000 đồng/kg, trong khi Đồng Nai và Gia Lai cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 139.000 đồng/kg.
Đây là phiên tăng thứ hai liên tiếp của thị trường hồ tiêu, đưa giá tiến sát vùng cao nhất kể từ đầu tháng. Diễn biến này cho thấy tâm lý giao dịch đang dần tích cực hơn sau giai đoạn kéo dài đi ngang, dù nguồn cung trong nước chưa có nhiều thay đổi.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tiếp tục ổn định. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia được giao dịch ở mức 6.823 USD/tấn; tiêu đen Brazil ASTA 570 giữ ở 5.700 USD/tấn, thấp nhất trong nhóm các nước xuất khẩu lớn; trong khi Malaysia tiếp tục có mức giá cao nhất, đạt 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá chào bán tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l lần lượt giữ ở mức 5.970 USD/tấn và 6.050 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia được giao dịch ở mức 9.404 USD/tấn; tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt ở mức 12.200 USD/tấn và 8.250 USD/tấn.
Việc giá tiêu thế giới đi ngang phản ánh cung - cầu toàn cầu chưa có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu tích cực về giá, ngành hồ tiêu Việt Nam đang đứng trước áp lực ngày càng lớn từ các tiêu chuẩn sản xuất xanh, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và các quy định về phát triển bền vững tại những thị trường nhập khẩu chủ lực như EU và Mỹ.
Giá cà phê hôm nay 30/7: Tăng vọt, áp sát mốc 99.000 đồng/kg
Thị trường cà phê tiếp tục ghi nhận một phiên giao dịch khởi sắc khi giá trong nước và thế giới đồng loạt tăng mạnh. Sau ba phiên tăng liên tiếp, giá cà phê nhân xô tại Tây Nguyên đã tiến sát ngưỡng 99.000 đồng/kg.
Khảo sát tại các vùng nguyên liệu cho thấy giá cà phê hiện dao động từ 97.800 - 98.500 đồng/kg, tăng 1.800 - 2.000 đồng/kg so với hôm qua.
Đắk Nông tiếp tục dẫn đầu cả nước với mức 98.500 đồng/kg sau khi tăng thêm 1.900 đồng/kg. Gia Lai tăng 1.900 đồng/kg lên 98.300 đồng/kg, trong khi Đắk Lắk tăng 1.800 đồng/kg lên cùng mức 98.300 đồng/kg. Lâm Đồng ghi nhận mức tăng mạnh nhất, tăng 2.000 đồng/kg lên 97.800 đồng/kg.
Đà phục hồi mạnh đã giúp thị trường gần như lấy lại toàn bộ mức giảm của tuần trước, đồng thời đưa giá cà phê trở lại vùng cao nhất trong nhiều tuần.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê tiếp tục đi lên trên cả hai sàn giao dịch.
Tại London, hợp đồng robusta giao tháng 9/2026 tăng 78 USD/tấn, tương đương 2,05%, lên 3.877 USD/tấn; kỳ hạn tháng 11/2026 cũng tăng 78 USD/tấn, lên 3.859 USD/tấn.
Trên sàn New York, hợp đồng arabica giao tháng 9/2026 tăng 14,85 US cent/pound, tương đương 4,58%, lên 339,4 US cent/pound; hợp đồng giao tháng 12/2026 tăng 11,4 US cent/pound, đạt 317,3 US cent/pound.
Thị trường được hỗ trợ bởi lo ngại nguồn cung ngắn hạn thắt chặt, trong khi điều kiện thời tiết tại Brazil - quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới - tiếp tục được giới đầu tư theo dõi sát do có thể ảnh hưởng đến sản lượng niên vụ mới.
Giá lúa gạo hôm nay 30/7: Gạo nguyên liệu bật tăng, lúa đi ngang
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ghi nhận diễn biến tích cực hơn khi nhiều chủng loại gạo nguyên liệu tăng giá, trong khi giá lúa vẫn duy trì ổn định do hoạt động thu mua còn khá chậm.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu IR 504 tăng 150 đồng/kg, lên mức 9.650 - 9.750 đồng/kg. Gạo CL 555 tăng thêm 100 đồng/kg, dao động 9.800 - 9.900 đồng/kg.
Các chủng loại còn lại cơ bản giữ nguyên mặt bằng giá. Gạo OM 5451 được giao dịch ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; IR 50404 ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; còn OM 380 và Sóc Thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, tấm thơm tăng nhẹ 50 đồng/kg lên 8.550 - 8.700 đồng/kg, trong khi giá cám giữ ổn định quanh 7.950 - 8.100 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, giá thu mua không có nhiều thay đổi. Lúa IR 50404 tươi dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 6.850 - 7.000 đồng/kg; OM 5451 từ 6.200 - 6.400 đồng/kg; OM 18 dao động 6.800 - 7.000 đồng/kg và OM 34 ở mức 6.100 - 6.300 đồng/kg.
Theo ghi nhận tại các địa phương, giao dịch vẫn diễn ra khá chậm. Tại An Giang và Đồng Tháp, lượng thương lái hỏi mua mới chưa nhiều khiến giá lúa tiếp tục ổn định. Trong khi đó, tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, sức mua vẫn ở mức thấp, thị trường chưa xuất hiện nhiều tín hiệu khởi sắc.
Trên thị trường bán lẻ, giá gạo hầu như không thay đổi. Gạo Nàng Nhen tiếp tục giữ mức cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; Jasmine ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; Đài Thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg; gạo thường dao động 13.500 - 14.500 đồng/kg và gạo OM 18 ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp cũng không ghi nhận biến động, với nếp IR 4625 tươi dao động 7.300 - 7.500 đồng/kg và nếp khô ba tháng ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 455 - 459 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động 359 - 363 USD/tấn; còn gạo Jasmine giữ ở mức 546 - 550 USD/tấn.
So với các đối thủ cạnh tranh, giá gạo 5% tấm của Thái Lan hiện cũng ở mức 455 - 459 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm dao động 382 - 386 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán ở mức 363 - 367 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 290 - 294 USD/tấn.
Theo các chuyên gia, dù giá gạo nguyên liệu trong nước đã phục hồi nhẹ, thị trường vẫn chịu tác động từ sức mua chậm và nguồn cung ổn định. Trong ngắn hạn, giá nhiều khả năng tiếp tục dao động trong biên độ hẹp, trong khi diễn biến xuất khẩu và nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu lớn sẽ là yếu tố quyết định xu hướng của thị trường trong thời gian tới.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
