Giá hồ tiêu hôm nay: Duy trì ổn định
Khảo sát tại các vùng trồng hồ tiêu trọng điểm cho thấy, giá tiêu trong nước sáng nay tiếp tục đi ngang, dao động trong khoảng 137.000 - 139.000 đồng/kg và chưa ghi nhận điều chỉnh so với phiên trước.
Trong đó, Đắk Lắk và Đắk Nông (thuộc tỉnh Lâm Đồng sau sắp xếp đơn vị hành chính) tiếp tục là hai địa phương có mức giá thu mua cao nhất cả nước, đạt 139.000 đồng/kg.
Tại TP.HCM (khu vực trước đây là Bà Rịa - Vũng Tàu), Đồng Nai và Gia Lai, giá hồ tiêu tiếp tục được giao dịch phổ biến ở mức 137.000 đồng/kg.
Việc giá hồ tiêu duy trì ổn định trong nhiều phiên liên tiếp cho thấy thị trường đang bước vào giai đoạn cân bằng sau nhịp điều chỉnh cuối tháng trước. Nguồn cung trong nước không còn quá dồi dào nhưng nhu cầu thu mua hiện vẫn diễn ra khá thận trọng, khiến giá chưa xuất hiện động lực bứt phá mới.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tiếp tục duy trì trạng thái ổn định khi các quốc gia xuất khẩu chủ chốt chưa ghi nhận biến động đáng kể.
Theo số liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tiếp tục được niêm yết ở mức 7.121 USD/tấn. Tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giữ nguyên ở mức 5.900 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia duy trì mức 9.350 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l vẫn dao động trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ ổn định ở mức 9.252 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu trắng Malaysia và Việt Nam lần lượt được chào bán ở mức 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn.
Giá cà phê hôm nay: Đồng loạt bật tăng, thị trường quốc tế hỗ trợ giá trong nước
Giá cà phê hôm nay ghi nhận đà tăng mạnh trên cả thị trường nội địa và quốc tế sau phiên điều chỉnh đầu tháng.
Khảo sát tại khu vực Tây Nguyên cho thấy giá cà phê đồng loạt tăng 1.200 đồng/kg so với ngày hôm trước, đưa mặt bằng giá thu mua lên dao động trong khoảng 90.000 - 90.500 đồng/kg.
Đắk Nông (thuộc tỉnh Lâm Đồng sau sắp xếp đơn vị hành chính) tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất với 90.500 đồng/kg.
Tại Gia Lai và Đắk Lắk, giá cà phê cùng tăng lên 90.400 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng đạt mức 90.000 đồng/kg và vẫn là địa phương có giá thấp nhất trong nhóm các tỉnh Tây Nguyên.
Việc giá cà phê nhanh chóng quay trở lại vùng trên 90.000 đồng/kg cho thấy lực cầu vẫn duy trì khá tốt sau giai đoạn điều chỉnh ngắn. Bên cạnh yếu tố nguồn cung trong nước không còn dồi dào, diễn biến tích cực từ thị trường quốc tế tiếp tục tạo lực đỡ cho giá nội địa.
Theo cập nhật sáng 2/7, giá cà phê trên các sàn giao dịch quốc tế đồng loạt tăng mạnh.
Trên sàn London, giá cà phê robusta hợp đồng giao tháng 7/2026 tăng 84 USD/tấn, tương đương 2,23%, lên mức 3.845 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 94 USD/tấn, tương đương 2,64%, đạt 3.658 USD/tấn.
Tại sàn New York, giá cà phê arabica giao tháng 7/2026 tăng tới 20,1 US cent/pound, tương đương 6,9%, lên mức 311,2 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng thêm 18,65 US cent/pound, tương ứng 6,71%, đạt 296,45 US cent/pound.
Theo Reuters, thị trường tiếp tục tập trung vào diễn biến vụ thu hoạch tại Brazil - quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới. Những đợt mưa kéo dài trong thời gian gần đây đang làm chậm tiến độ thu hoạch và gia tăng lo ngại về chất lượng hạt cà phê.
Giá lúa gạo hôm nay: Giá lúa giảm nhẹ, gạo trong nước và xuất khẩu giữ ổn định
Thị trường lúa gạo ngày 2/7 ghi nhận diễn biến phân hóa khi một số chủng loại lúa tươi giảm nhẹ, trong khi giá gạo nguyên liệu, gạo thành phẩm và xuất khẩu nhìn chung đi ngang.
Ở nhóm lúa tươi, IR 50404 và Đài Thơm 8 cùng giảm khoảng 100 đồng/kg do giao dịch mua bán chậm và sức mua mới chưa thực sự cải thiện.
Cụ thể, lúa IR 50404 hiện dao động từ 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg.
Trong khi đó, lúa OM 18 giữ mức 6.200 - 6.300 đồng/kg; OM 34 dao động 5.400 - 5.600 đồng/kg và OM 5451 tiếp tục giao dịch trong khoảng 5.700 - 5.800 đồng/kg.
Ở nhóm gạo nguyên liệu, giá tiếp tục ổn định. Gạo CL 555 dao động từ 9.200 - 9.300 đồng/kg; gạo IR 504 ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; OM 5451 giữ mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; còn OM 18 dao động từ 8.700 - 8.850 đồng/kg.
Các dòng gạo chất lượng cao như Đài Thơm 8 giữ mức 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo OM 380 và Sóc Thơm cùng giao dịch trong khoảng 7.500 - 7.600 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 dao động từ 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Nhóm phụ phẩm tiếp tục đi ngang với mức phổ biến từ 7.800 - 8.050 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg, còn cám dao động từ 7.950 - 8.100 đồng/kg.
Phân khúc nếp không ghi nhận biến động. Nếp IR 4625 tươi giữ ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp khô 3 tháng dao động từ 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Gạo Jasmine được chào bán ở mức 508 - 512 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động khoảng 450 - 495 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm giữ ở mức 347 - 351 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, gạo 5% tấm của Thái Lan dao động 480 - 484 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 412 - 416 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán trong khoảng 350 - 354 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 280 - 284 USD/tấn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
