Cà phê trong nước chưa vượt được ngưỡng 90.000 đồng/kg
Trái ngược với xu hướng tăng mạnh của thị trường thế giới, giá cà phê nội địa tiếp tục dao động dưới mốc 90.000 đồng/kg. Tại Tây Nguyên, giá cà phê nhân xô hiện phổ biến từ 89.000 - 89.300 đồng/kg.
Đắk Nông dẫn đầu với mức 89.300 đồng/kg nhưng cũng là địa phương giảm mạnh nhất tuần qua, mất khoảng 400 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng giao dịch ở mức 89.200 đồng/kg, giảm khoảng 300 đồng/kg so với cuối tuần trước. Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có mức giá thấp nhất khu vực, khoảng 89.000 đồng/kg.
Mặc dù trong phiên giao dịch ngày 19/6, giá cà phê từng vượt ngưỡng 90.000 đồng/kg nhờ đà tăng của thị trường quốc tế, nhưng áp lực bán ra từ nông dân đã khiến giá nhanh chóng điều chỉnh trở lại.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê tăng mạnh trên cả hai sàn giao dịch. Tại London, giá robusta giao tháng 7/2026 đạt 3.640 USD/tấn, tăng 1,3% so với tuần trước; hợp đồng tháng 9 tăng tới 5,8%, lên 3.592 USD/tấn. Tại New York, giá arabica giao tháng 7 tăng 7%, lên 275,1 cent/pound; kỳ hạn tháng 9 tăng 5,7%, đạt 267,8 cent/pound.
Theo các chuyên gia phân tích, nguyên nhân chính hỗ trợ giá cà phê trong tuần qua đến từ những lo ngại liên quan đến điều kiện thời tiết tại Brazil – quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới.
Nhiều khu vực trồng cà phê trọng điểm của Brazil xuất hiện mưa trái mùa trong thời điểm thu hoạch. Điều này khiến tiến độ thu hái bị chậm lại, đồng thời ảnh hưởng đến quá trình phơi sấy và chế biến sau thu hoạch. Thị trường vì vậy lo ngại nguồn cung mới sẽ được đưa ra thị trường chậm hơn dự kiến.
Bên cạnh đó, hoạt động mua bù vị thế của các quỹ đầu cơ cũng góp phần thúc đẩy đà tăng. Sau thời gian dài bán tháo khiến lượng vị thế mua ròng suy giảm mạnh, nhiều quỹ đã quay trở lại thị trường khi xuất hiện các yếu tố hỗ trợ mới, tạo thêm lực đẩy cho giá cà phê.
Một yếu tố khác đang được giới đầu tư đặc biệt quan tâm là nguy cơ hình thành hiện tượng El Niño trong những tháng tới.
Theo các chuyên gia khí tượng, El Niño thường kéo theo các hiện tượng thời tiết cực đoan trên diện rộng, làm thay đổi lượng mưa và nhiệt độ tại nhiều khu vực sản xuất nông nghiệp quan trọng trên thế giới.
Đối với ngành cà phê, tác động đáng lo ngại nhất tập trung tại Đông Nam Á – nơi chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn cung robusta toàn cầu. Việt Nam và Indonesia hiện đóng góp khoảng một nửa sản lượng robusta thế giới, trong khi El Niño thường gây khô hạn kéo dài và nhiệt độ cao tại khu vực này.
Nếu kịch bản thời tiết bất lợi xảy ra, năng suất cà phê niên vụ tới có thể bị ảnh hưởng đáng kể, từ đó làm gia tăng lo ngại về nguồn cung trong trung và dài hạn.
Hồ tiêu giảm mạnh, đánh mất mốc 140.000 đồng/kg
Sau nhiều tuần neo ở vùng giá cao, thị trường hồ tiêu trong nước bất ngờ điều chỉnh mạnh. Giá tiêu hiện dao động từ 136.000 - 138.000 đồng/kg, giảm từ 2.500 - 3.000 đồng/kg so với cuối tuần trước.
Đắk Lắk và Đắk Nông hiện vẫn là hai địa phương có giá cao nhất cả nước với 138.000 đồng/kg. Bà Rịa - Vũng Tàu ghi nhận mức giảm mạnh nhất, xuống còn 136.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng giao dịch ở mức 136.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, diễn biến khá trái chiều. Giá tiêu đen Indonesia tăng nhẹ lên 7.175 USD/tấn, trong khi tiêu đen Brazil giảm còn 5.850 USD/tấn, đánh dấu tuần giảm thứ tư liên tiếp. Giá tiêu đen Malaysia giữ ổn định ở mức 9.350 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu xuất khẩu vẫn duy trì trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
Theo các chuyên gia, dù thị trường đang trải qua nhịp điều chỉnh khá mạnh, triển vọng trung và dài hạn của hồ tiêu vẫn được đánh giá tích cực. Nguồn cung toàn cầu chưa thực sự dư thừa, trong khi nhu cầu từ các thị trường tiêu thụ lớn đang dần phục hồi.
Trong bối cảnh tồn kho thế giới ở mức thấp và sản lượng toàn cầu chưa tăng mạnh, giá hồ tiêu được kỳ vọng vẫn có nền tảng hỗ trợ trong những tháng cuối năm, dù các đợt điều chỉnh ngắn hạn vẫn có thể tiếp tục xuất hiện.
Giá lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long đi ngang
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo hôm nay nhìn chung ổn định. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa OM 18 tươi và Đài Thơm 8 tươi cùng dao động từ 6.200 - 6.400 đồng/kg. Lúa IR 50404 tươi được thu mua ở mức 5.400 - 5.600 đồng/kg; OM 5451 từ 5.650 - 5.850 đồng/kg; OM 34 từ 5.500 - 5.700 đồng/kg.
Đối với gạo nguyên liệu xuất khẩu, IR 504 dao động từ 8.650 - 8.750 đồng/kg; CL 555 từ 9.100 - 9.200 đồng/kg; OM 5451 từ 9.500 - 9.600 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg.
Gạo thành phẩm IR 504 được giao dịch ở mức 10.750 - 10.900 đồng/kg. Giá phụ phẩm như tấm thơm dao động từ 7.950 - 8.050 đồng/kg, cám ở mức 7.800 - 8.000 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, gạo Nàng Nhen tiếp tục có giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg, gạo Nhật khoảng 22.000 đồng/kg, gạo thơm Thái hạt dài từ 20.000 - 22.000 đồng/kg, trong khi gạo thường phổ biến từ 14.000 - 15.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, gạo Jasmine của Việt Nam đang được chào bán từ 505 - 509 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm từ 485 - 490 USD/tấn. Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan dao động từ 473 - 477 USD/tấn, còn gạo 5% tấm của Ấn Độ ở mức 347 - 351 USD/tấn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, tăng 6,6% về lượng so với cùng kỳ năm trước. Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm gần 47% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, tiếp theo là Trung Quốc với thị phần 17,8%.
Nhìn chung, thị trường nông sản đang phân hóa rõ nét. Cà phê thế giới được hỗ trợ bởi những lo ngại về nguồn cung và thời tiết, trong khi hồ tiêu chịu áp lực điều chỉnh sau giai đoạn tăng nóng. Đối với lúa gạo, mặt bằng giá tiếp tục ổn định nhờ nguồn cung dồi dào và hoạt động xuất khẩu duy trì tích cực.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
