Giá cà phê giảm nhẹ do áp lực nguồn cung toàn cầu
Thị trường cà phê trong nước sáng 22/5 tiếp tục xu hướng điều chỉnh giảm nhẹ tại khu vực Tây Nguyên, đưa mặt bằng giá giao dịch phổ biến xuống quanh 85.500 – 86.100 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Nông ghi nhận mức giảm mạnh nhất khoảng 200 đồng/kg, hiện giao dịch ở mức 86.100 đồng/kg và tiếp tục là địa phương có giá cao nhất cả nước. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng giảm 100 đồng/kg, xuống còn 86.000 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng duy trì mức thấp nhất thị trường với khoảng 85.500 đồng/kg.
Theo ghi nhận từ các doanh nghiệp thu mua, hoạt động giao dịch hiện diễn ra khá chậm khi cả người bán và người mua đều có tâm lý thận trọng, chờ thêm tín hiệu từ thị trường thế giới sau giai đoạn biến động mạnh vừa qua.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê robusta và arabica tiếp tục suy yếu dưới áp lực nguồn cung toàn cầu gia tăng, đặc biệt từ Brazil – quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới.
Trên sàn London, hợp đồng robusta giao tháng 7/2026 giảm 17 USD/tấn, tương đương 0,51%, xuống còn 3.328 USD/tấn. Tuy nhiên, các kỳ hạn xa hơn có sự phục hồi nhẹ, với hợp đồng tháng 9/2026 tăng lên 3.214 USD/tấn, hợp đồng tháng 11/2026 đạt 3.144 USD/tấn và tháng 1/2027 ở mức 3.078 USD/tấn.
Ở sàn New York, giá arabica tiếp tục giảm trên diện rộng. Hợp đồng tháng 7/2026 giảm còn 268,3 cent/lb; hợp đồng tháng 9/2026 giảm xuống 260,5 cent/lb; kỳ hạn tháng 12/2026 còn 252,9 cent/lb.
Theo Reuters, triển vọng vụ mùa bội thu tại Brazil tiếp tục gây sức ép lớn lên thị trường cà phê toàn cầu. Ngoài ra, đồng USD duy trì ở vùng cao cùng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục duy trì lãi suất cao cũng làm giảm sức hấp dẫn của nhóm hàng hóa nguyên liệu.
Dù vậy, nhiều chuyên gia vẫn cho rằng thị trường cà phê chưa thực sự bước vào giai đoạn dư cung khi lượng tồn kho đạt chuẩn trên các sàn quốc tế vẫn ở mức thấp và nhu cầu tiêu thụ cà phê hòa tan toàn cầu tiếp tục duy trì ổn định.
Giá hồ tiêu neo cao nhờ nguồn cung hạn chế
Khác với cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước ngày 22/5 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định sau nhiều phiên biến động mạnh trước đó. Hiện giá tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm dao động trong khoảng 139.000 – 142.000 đồng/kg. Đắk Lắk và Đắk Nông tiếp tục là hai địa phương có mức giá cao nhất cả nước khi duy trì quanh ngưỡng 142.000 đồng/kg.
Tại Bà Rịa – Vũng Tàu, giá tiêu được thu mua ở mức 141.000 đồng/kg; Đồng Nai duy trì quanh 140.000 đồng/kg; trong khi Gia Lai tiếp tục là địa phương có giá thấp nhất với khoảng 139.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu nhìn chung đi ngang nhưng có sự phân hóa giữa các quốc gia xuất khẩu lớn. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia hiện duy trì ở mức 7.050 USD/tấn, trong khi tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giao dịch quanh 6.250 USD/tấn. Malaysia tiếp tục giữ mức giá cao nhất với khoảng 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l hiện dao động trong khoảng 6.100 – 6.200 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, giá xuất khẩu của Việt Nam duy trì quanh mức 9.000 USD/tấn, thấp hơn đáng kể so với mức 12.200 USD/tấn của Malaysia.
Theo IPC, thị trường hồ tiêu toàn cầu hiện chịu tác động đan xen từ biến động tỷ giá, nguồn cung nội địa cũng như kỳ vọng về các vụ thu hoạch mới tại nhiều quốc gia sản xuất lớn. Tuy nhiên, mặt bằng giá vẫn được hỗ trợ bởi nguồn cung toàn cầu chưa thực sự dồi dào sau nhiều năm diện tích trồng tiêu sụt giảm.
Giá lúa gạo đi ngang, xuất khẩu Việt Nam tiếp tục giữ lợi thế
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo hôm nay nhìn chung duy trì trạng thái ổn định khi nguồn hàng cuối vụ không còn nhiều và giao dịch diễn ra chậm.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu OM 5451 hiện dao động 9.550 – 9.650 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 ở mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 dao động 9.200 – 9.400 đồng/kg.
Đối với phân khúc gạo thành phẩm, gạo IR 504 hiện được giao dịch quanh mức 10.750 – 10.900 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, mặt bằng giá gạo tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen hiện có mức giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 – 22.000 đồng/kg.
Ở phân khúc lúa tươi, lúa OM 18 và Đài Thơm 8 hiện dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg; lúa OM 5451 ở mức 5.800 – 6.000 đồng/kg; lúa IR 50404 khoảng 5.400 – 5.500 đồng/kg.
Theo ghi nhận tại các địa phương, nguồn lúa Hè Thu sớm bắt đầu được bán ra nhưng giao dịch chưa thực sự sôi động. Tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ và Vĩnh Long, nông dân vẫn giữ giá chào bán ở mức cao khiến lượng giao dịch còn hạn chế.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì sức cạnh tranh. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine đang được chào bán ở mức 525 – 529 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 510 – 520 USD/tấn.
Trong khi đó, giá gạo 5% tấm của Thái Lan hiện ở mức 426 – 430 USD/tấn, còn gạo 5% tấm của Ấn Độ dao động 342 – 346 USD/tấn.
Giới phân tích cho rằng giá gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn được hỗ trợ nhờ chất lượng gạo thơm cải thiện và nhu cầu nhập khẩu ổn định từ nhiều thị trường châu Á và Trung Đông. Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh từ nguồn cung giá rẻ của Ấn Độ có thể tiếp tục ảnh hưởng đến triển vọng xuất khẩu trong thời gian tới.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
