Giá hồ tiêu hôm nay: Đồng loạt giảm 3.000 - 4.000 đồng/kg
Khảo sát tại các vùng trồng hồ tiêu trọng điểm cho thấy, giá tiêu trong nước sáng 14/7 đồng loạt điều chỉnh giảm từ 3.000 - 4.000 đồng/kg so với phiên trước, đưa mặt bằng giá thu mua về mức 134.500 - 137.000 đồng/kg.
Đắk Nông (thuộc tỉnh Lâm Đồng theo đơn vị hành chính mới) là địa phương giảm mạnh nhất khi mất 4.000 đồng/kg, còn 137.000 đồng/kg. Tại khu vực TP.HCM (trước đây là Bà Rịa - Vũng Tàu), giá tiêu cũng giảm 4.000 đồng/kg xuống còn 135.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Gia Lai giảm 3.500 đồng/kg, hiện được thu mua ở mức 134.500 đồng/kg - thấp nhất trong các địa phương khảo sát. Đắk Lắk và Đồng Nai cùng giảm 3.000 đồng/kg, lần lượt xuống còn 137.000 đồng/kg và 135.000 đồng/kg.
Đợt điều chỉnh này diễn ra sau giai đoạn giá hồ tiêu tăng mạnh trong tuần trước, cho thấy thị trường đang bước vào nhịp điều chỉnh ngắn hạn khi hoạt động chốt lời gia tăng. Dù vậy, mặt bằng giá hiện vẫn cao hơn đáng kể so với vùng đáy đầu tháng 7, phản ánh nguồn cung trong nước chưa thực sự dồi dào.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu nhìn chung ổn định. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục được giữ ở mức 5.850 - 5.950 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
Trong khi đó, tiêu đen Indonesia được chào bán ở mức 7.079 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 duy trì 5.900 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia tiếp tục giữ mức cao nhất 9.350 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia ổn định ở mức 9.198 USD/tấn. Tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam được chào bán 8.200 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục dẫn đầu với mức 12.250 USD/tấn.
Giá cà phê hôm nay: Thị trường trong nước và thế giới cùng đi ngang
Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên không ghi nhận biến động mới, sau phiên điều chỉnh mạnh trước đó. Mức giá thu mua trung bình tiếp tục duy trì quanh 95.200 đồng/kg.
Khảo sát tại các địa phương cho thấy, giá cà phê dao động trong khoảng 94.700 - 95.300 đồng/kg. Đắk Nông (Lâm Đồng mới) tiếp tục là địa phương có giá cao nhất với 95.300 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng được thu mua ở mức 95.200 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng thấp nhất với 94.700 đồng/kg.
Việc giá cà phê giữ ổn định sau những phiên biến động mạnh cho thấy thị trường đang tạm thời cân bằng. Người bán chưa có xu hướng đẩy mạnh bán ra, trong khi doanh nghiệp thu mua cũng thận trọng trước diễn biến của thị trường thế giới.
Trên các sàn giao dịch quốc tế, giá cà phê chưa ghi nhận biến động mới tại thời điểm cập nhật. Trên sàn London, hợp đồng cà phê robusta giao tháng 7/2026 đứng ở mức 3.872 USD/tấn. Trong khi đó, trên sàn New York, hợp đồng arabica giao tháng 7/2026 duy trì ở mức 343 US cent/lb.
Giới phân tích cho rằng thị trường cà phê thế giới đang trong giai đoạn chờ thêm thông tin về tiến độ thu hoạch tại Brazil cũng như triển vọng nguồn cung trong những tháng tới. Diễn biến ổn định trên các sàn quốc tế cũng góp phần giúp giá cà phê nội địa tạm thời giữ vững mặt bằng hiện nay.
Giá lúa gạo hôm nay: Giao dịch chậm, giá duy trì ổn định
Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục diễn biến khá trầm lắng trong ngày 14/7. Hoạt động mua bán ở nhiều địa phương vẫn chậm, trong khi giá các mặt hàng chủ lực hầu như không có biến động.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi Đài Thơm 8 hiện dao động từ 6.450 - 6.600 đồng/kg. Lúa OM 18 được thu mua ở mức 6.300 - 6.500 đồng/kg, lúa IR 50404 đạt 5.700 - 5.800 đồng/kg. Lúa OM 34 dao động 5.600 - 5.700 đồng/kg, còn OM 5451 giữ mức 5.700 - 5.800 đồng/kg.
Tại An Giang và Đồng Tháp, nông dân vẫn neo giá bán, trong khi hoạt động thu mua diễn ra cầm chừng. Ở Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, giao dịch mới chưa nhiều, khiến giá lúa tươi tiếp tục duy trì ổn định.
Đối với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động từ 8.950 - 9.050 đồng/kg. Gạo nguyên liệu CL 555 được giao dịch ở mức 9.400 - 9.500 đồng/kg; OM 5451 đạt 9.500 - 9.600 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 380 và Sóc thơm cùng giữ mức 7.500 - 7.600 đồng/kg, trong khi gạo thành phẩm IR 504 dao động 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, giá tiếp tục ổn định trong khoảng 7.950 - 8.300 đồng/kg. Tấm thơm tăng nhẹ lên 8.200 - 8.300 đồng/kg, còn cám duy trì ở mức 7.950 - 8.100 đồng/kg.
Trên thị trường bán lẻ, giá các loại gạo phổ biến không thay đổi. Gạo Nàng Nhen vẫn có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Jasmine 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm 15.000 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg; gạo thường từ 13.000 - 14.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 510 - 520 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 348 - 352 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan được giao dịch quanh 478 - 482 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 409 - 413 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm duy trì 350 - 354 USD/tấn, còn gạo 100% tấm được chào bán trong khoảng 280 - 284 USD/tấn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
