Giá lúa mì thế giới giữ ở mức cao, trong nước tăng theo
Ngày 14/2/2026, giá lúa mì tại Trung Quốc giảm nhẹ 0,51% so với phiên trước, xuống mức 2.716 nhân dân tệ/tấn. Tuy nhiên, tính trong một tuần gần nhất, giá vẫn tăng 1,74% và tăng 3,11% so với một tháng trước, phản ánh xu hướng đi lên trong trung hạn.
Trên các sàn giao dịch quốc tế, giá lúa mì giao ngay giảm 3,13% trong phiên gần nhất, xuống mức 593,06 USD/bushel, song tính chung cả tuần chỉ giảm 0,03% và giảm 4,81% trong tháng. Dù có những nhịp điều chỉnh kỹ thuật, mặt bằng giá lúa mì thế giới vẫn duy trì ở mức cao so với trung bình nhiều năm.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ lo ngại thiếu hụt nguồn cung toàn cầu. Cuộc xung đột Nga – Ukraine đã làm gián đoạn hoạt động xuất khẩu lúa mì từ hai quốc gia vốn chiếm khoảng 29% tổng lượng xuất khẩu lúa mì thế giới. Bên cạnh đó, tình trạng khô hạn kéo dài tại nhiều vùng sản xuất lớn ở Mỹ, châu Âu và Trung Quốc cũng gây áp lực lên triển vọng nguồn cung.
Tại thị trường trong nước, giá lúa mì ngày 14/2 giao dịch tại cảng Quy Nhơn ở mức 7.000 đồng/kg đối với lúa mì xát và 6.800 đồng/kg đối với lúa mì nguyên. Giá trong nước đang có xu hướng tăng theo diễn biến thế giới do Việt Nam phải nhập khẩu tới khoảng 80% nhu cầu tiêu thụ, khiến thị trường trong nước nhạy cảm với biến động quốc tế.
Theo đánh giá, giá lúa mì thế giới hiện cao hơn giá trong nước khoảng 200 - 300 đồng/kg. Sự chênh lệch này phản ánh chi phí logistics, bảo hiểm, lưu kho và yếu tố cạnh tranh trong nhập khẩu.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), các quốc gia sản xuất lúa mì lớn nhất thế giới hiện nay gồm Trung Quốc (chiếm khoảng 18% sản lượng toàn cầu), Ấn Độ (15%) và Mỹ (12%). Trong khi đó, Nga và Ukraine tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên thị trường xuất khẩu, nên bất ổn địa chính trị tại khu vực này vẫn là rủi ro lớn đối với cân bằng cung – cầu lúa mì toàn cầu.
Thị trường đường lao dốc, dư cung đè nặng giá
Trái ngược với xu hướng của lúa mì, thị trường đường thế giới đang chịu áp lực giảm mạnh do nguồn cung dư thừa. Trong phiên gần nhất, hợp đồng đường thô số 11 giao tháng 3 giảm gần 2%, xuống còn 305 USD/tấn, trong khi hợp đồng đường trắng cùng kỳ hạn giảm tới 2,74%, về mức 387 USD/tấn – mức thấp nhất trong hơn 5 năm.
Theo Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), nguồn cung dồi dào từ Ấn Độ là nguyên nhân chính khiến giá đường liên tục suy yếu. Tại bang Maharashtra – vùng sản xuất mía đường lớn nhất nước này, sản lượng đã đạt 8,2 triệu tấn tính đến ngày 5/2, vượt tổng sản lượng 8,1 triệu tấn của cả niên vụ trước, dù niên vụ hiện tại vẫn chưa kết thúc.
Cùng với đó, Brazil (quốc gia xuất khẩu đường lớn nhất thế giới) cũng ghi nhận nguồn cung ổn định. Theo Hiệp hội Công nghiệp Mía đường Brazil (UNICA), lũy kế niên vụ 2025–2026 (tính đến giữa tháng 1), sản lượng đường tại khu vực Trung – Nam đạt 40,23 triệu tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, các nhà máy đang ưu tiên ép mía để sản xuất đường thay vì ethanol, với tỷ lệ mía ép cho đường tăng lên 50,78%, cao hơn rõ rệt so với niên vụ trước.
Ở chiều cầu, thị trường lại kém tích cực khi Indonesia – quốc gia nhập khẩu đường lớn nhất thế giới – ghi nhận lượng nhập khẩu tháng 12/2025 giảm mạnh hơn 57%, chỉ còn gần 218.000 tấn. Tính chung cả năm 2025, tổng lượng đường nhập khẩu của nước này đạt 3,92 triệu tấn, giảm 26% so với năm trước, cho thấy nhu cầu tiêu thụ có dấu hiệu chững lại.
Tại thị trường nội địa, giao dịch đường những ngày cuối năm diễn ra trong không khí trầm lắng. Nguồn cung từ các nhà máy khá dồi dào nhưng sức mua yếu, khiến thanh khoản thấp. Khu vực miền Tây, đường 333 (hạt trung) được chào bán quanh mức 16.600 – 16.650 đồng/kg, trong khi đường Thái (hạt nhuyễn) giao tận nơi dao động 15.600 – 15.700 đồng/kg. Tại TP.HCM, đường Sông Con được chào bán quanh 16.600 đồng/kg, gần như không thay đổi so với các phiên trước.
Triển vọng: Lúa mì duy trì cao, đường còn chịu áp lực giảm
Trong ngắn hạn, giá lúa mì được dự báo tiếp tục neo cao do rủi ro địa chính trị và thời tiết chưa được giải tỏa. Ngược lại, thị trường đường nhiều khả năng tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu dư thừa và nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường lớn suy yếu.
Diễn biến trái chiều này cho thấy bức tranh phân hóa rõ nét của nhóm hàng nông sản, buộc doanh nghiệp và nhà đầu tư phải theo dõi sát từng thị trường riêng lẻ thay vì nhìn nhận theo xu hướng chung.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn

