Đề xuất ưu tiên đầu tư 112.325 tỉ đồng làm 2 đoạn đường sắt tốc độ cao

Trong số 9 tuyến mới được đề xuất ưu tiên đầu tư giai đoạn 2021-2030, ưu tiên hàng đầu là tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam với xây dựng trước 2 đoạn Hà Nội-Vinh, Nha Trang-TPHCM. Tổng nhu cầu vốn của dự án cho giai đoạn này là 112.325 tỉ đồng.

Ưu tiên 2 đoạn của đường sắt cao tốc Bắc-Nam

Tại dự thảo Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 được Cục Đường sắt Việt Nam trình Bộ Giao thông vận tải (GTVT), mục tiêu đến năm 2030, vận tải hàng hóa đạt 11,8 triệu tấn, chiếm thị phần khoảng 0,3%; vận tải hành khách 460 triệu khách, chiếm thị phần 1,08%.

Để đạt mục tiêu này, mạng lưới đường sắt quốc gia thời kỳ 2021-2030 được quy hoạch theo 16 tuyến với chiêù dài 4.746,4 km. Trong đó có 7 tuyến chính hiện hữu với chiều dài 2.378,4 km và quy hoạch để chuẩn bị, thực hiện đâù tư 9 tuyến đường sắt mới với chiều dài 2.368 km.

Trong số 9 tuyến mới được đề xuất ưu tiên đầu tư giai đoạn 2021-2030, ưu tiên hàng đầu là tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam với xây dựng trước 2 đoạn Hà Nội-Vinh, Nha Trang-TPHCM. Tổng nhu cầu vốn của dự án cho giai đoạn này là 112.325 tỉ đồng.

Đề xuất ưu tiên đầu tư 112325 tỉ đồng làm 2 đoạn đường sắt tốc độ cao
Ưu tiên xây dựng đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam 2 đoạn Hà Nội-Vinh, Nha Trang–TPHCM trong 10 năm tới. Ảnh minh họa.

Ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) nhìn nhận, việc xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao là dự án đầu tư có tính lan tỏa, tạo sự thúc đẩy cho phát triển nhiều ngành như cơ khí, phát triển công nghệ cao.

Về nguồn vốn, ông Tiến cho rằng: "Trước mắt, khi đưa đường sắt tốc độ cao vào quy hoạch, chúng ta có thể thấy nguồn lực còn hạn chế, nhưng phải tính đến tương lai khi đất nước phát triển để còn có căn cứ huy động nguồn lực. Còn khi đã đưa vào chương trình đầu tư công sẽ có nhiều cách thức huy động từ ngân sách, vay ODA, phát hành trái phiếu Chính phủ...".

Cùng quan điểm về sự cần thiết cần xây dựng đường sắt cao tốc, ông Vũ Anh Minh, Chủ tịch HĐTV Tổng Công ty đường sắt Việt Nam đánh giá, trong 10 năm tới nếu được thì đầu tư toàn tuyến đường sắt cao tốc là tốt nhất.

"Còn nếu phải phân kỳ, theo tôi nên đầu tư trước đoạn Hà Nội-Đà Nẵng, thay vì đoạn Hà Nội-Vinh như đề xuất để phát huy hết công suất của dự án và nhu cầu vận chuyển do tuyến kéo dài hơn. Thêm vào đó, khu vực miền Trung là trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, khi đó sẽ xuất hiện nhu cầu từ các tỉnh Nam Trung bộ như Nha Trang đến TPHCM và từ Hà Nội đến các tỉnh thành miền Trung như Đà Nẵng. Từ đó cần làm đoạn Hà Nội-Đà Nẵng và TPHCM-Nha Trang trước, chứ không phải chúng ta “đo tiền” để làm đoạn Hà Nội-Vinh trước", ông Vũ Anh Minh nêu quan điểm.

Nói về vốn, Chủ tịch HĐTV Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam nhìn nhận, đối với một dự án, quan trọng không phải giá trị vốn đầu tư bao nhiêu mà hiệu quả của dự án thế nào để quyết định đầu tư. Nếu hiệu quả đầu tư là lớn thì 100 tỷ USD vẫn phải làm. Đơn cử như khi Nhật Bản xây dựng tàu cao tốc Shinkansen họ vẫn phải vay để làm. Do đó, phải cơ bản lượng hóa được hiệu quả dự án đối với phát triển kinh tế-xã hội để quyết định lựa chọn đầu tư.

Xây dựng mới thêm nhiều tuyến đường sắt

Ngoài việc đề xuất ưu tiên xây dựng 2 đoạn của tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam, dự thảo Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 còn đề xuất thêm 8 tuyến đường sắt mới với 4 dự án kết nối cảng biển.

Cụ thể: Hoàn thành xây dựng tuyến Yên Viên-Phả Lại-Hạ Long-cảng Cái Lân (xây dựng mới đoạn Lim-Phả Lại; nâng cấp, cải tạo đoạn Yên Viên-Lim, đoạn Phả Lại-Hạ Long), đường đơn, khổ lồng 1.000 mm và 1.435 mm, dài khoảng 129 km, nhu cầu vốn 6.000 tỉ đồng.

Xây dựng đường sắt nối cảng Lạch Huyện, Đình Vũ với đường sắt Yên Viên-Phả Lại-Hạ Long-Cái Lân bao gồm: đoạn Mạo Khê-Dụ Nghĩa-Nam Hải Phòng; đoạn Nam Hải Phòng nối cảng Lạch Huyện, Đình Vũ; đường đơn, khổ lồng 1.000 mm và 1.435 mm, dài khoảng 78 km, nhu cầu vốn 48.400 tỉ đồng.

Tuyến đường sắt Biên Hòa-Vũng Tàu khổ 1.435 mm, điện khí hóa, dài khoảng 84 km, trong đó đoạn Biên Hòa-Thị Vải đường đôi, đoạn Thị Vải-Vũng Tàu đường đơn. Tuyến Vũng Áng-Tân Ấp-Mụ Giạ, đường đơn, khổ 1.435 mm, dài khoảng 119 km.

Cùng với tuyến Vũng Áng-Mụ Giạ kết nối đường sắt Lào với cảng Vũng Áng, kết nối đường sắt quốc tế còn có xây dựng mới tuyến Dĩ An-Lộc Ninh, khổ 1.435 mm, điện khí hóa, dài khoảng 128 km, trong đó đoạn Dĩ An-Chơn Thành đường đôi, đoạn Chơn Thành-Lộc Ninh đường đơn.

Đồng thời, trong 10 năm tới sẽ ưu tiên xây dựng các tuyến đường sắt liên vùng, kết nối gồm: Đường sắt vành đai phía Đông Ngọc Hồi-Lạc Đạo-Bắc Hồng, thuộc đường sắt khu đầu mối Hà Nội, đường đôi, khổ lồng 1.000 mm và 1.435 mm, dài khoảng 59 km.

Tuyến đường sắt nhẹ Thủ Thiêm-Long Thành, đường đôi, khổ 1.435 mm, dài khoảng 38 km. Tuyến đường sắt TPHCM-Cần Thơ, đường đôi, khổ 1.435 mm, điện khí hóa, dài khoảng 174 km.

Được biết, cùng với đầu tư xây dựng mới các tuyến đường sắt, Dự thảo quy hoạch cũng đề xuất ưu tiên bố trí 47.269 tỉ đồng để nâng cấp các tuyến đường sắt hiện có trong giai đoạn 2021-2030 nhằm nâng cao năng lực hạ tầng, khai thác hiệu quả vận tải.

Tin liên quan
Tin khác
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ

Từ siêu thị, trung tâm thương mại đến chợ truyền thống và các hộ kinh doanh nhỏ, thanh toán không dùng tiền mặt đang từng bước trở thành phương thức giao dịch quen thuộc tại TP Hồ Chí Minh. Cùng với sự chuyển dịch này, các cơ quan quản lý đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy thanh toán số phát triển rộng khắp.

Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị
Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang có thêm cơ hội khi các chuỗi cung ứng toàn cầu mở rộng hiện diện trong nước. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi không chỉ nằm ở khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng mà còn ở mức độ doanh nghiệp Việt có thể đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ công nghệ, vật liệu đến thiết kế và phát triển sản phẩm.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc