Bán thẳng tới người dùng, cơ hội lớn và áp lực lớn
Đầu tháng 3/2026, cộng đồng doanh nghiệp đồ gỗ nội thất sẽ hội tụ tại TP.HCM để mổ xẻ một câu hỏi không dễ trả lời: xuất khẩu thế nào để thắng trong một thế giới đang thay đổi từng ngày.
Thị trường toàn cầu rung lắc, rào cản thương mại dày thêm, còn người tiêu dùng thì chuyển gu với tốc độ chóng mặt. Bức tranh ấy buộc doanh nghiệp Việt không thể đi theo lối cũ.
Áp lực tái định vị chiến lược xuất khẩu đang trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Không chỉ là tìm thêm thị trường mới, mà còn là chọn đúng phân khúc sản phẩm, đúng kênh bán hàng và đúng cách tiếp cận khách hàng. Muốn giữ được đà tăng trưởng, doanh nghiệp phải nâng cấp năng lực cạnh tranh, bước sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thay vì đứng ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp.
Các chuyên gia nhận định mô hình kinh doanh nội thất trên thế giới đang dịch chuyển mạnh. Cấu trúc phân phối truyền thống dần nhường chỗ cho cách tiếp cận linh hoạt hơn. Từ B2B vốn phụ thuộc nhiều vào nhà nhập khẩu và hệ thống đại lý, xu hướng đang nghiêng về D2C và chiến lược đa kênh. Khi tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng, doanh nghiệp có thể rút ngắn trung gian, cải thiện biên lợi nhuận và chủ động hơn trong xây dựng thương hiệu.
Theo ông Nguyễn Ngọc Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam, trong bối cảnh thương mại điện tử toàn cầu đang tái định hình ngành nội thất, D2C không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm. Đây đã trở thành một hướng đi chiến lược giúp doanh nghiệp tiếp cận thẳng người mua cuối cùng. Mô hình này tạo ra thế chủ động về dữ liệu, lợi nhuận và hình ảnh thương hiệu dài hạn.
Điểm cốt lõi của D2C nằm ở việc làm chủ dữ liệu khách hàng. Khi nắm được hành vi tiêu dùng, nhu cầu và thẩm mỹ của từng nhóm khách, doanh nghiệp có cơ sở để cải tiến sản phẩm và cá nhân hóa trải nghiệm. Thời gian đưa hàng ra thị trường cũng được rút ngắn vì không còn phụ thuộc vào diện tích trưng bày hay quyết định của hệ thống phân phối bên ngoài. Quyền quyết định thuộc về chính nhà sản xuất.
Ông Nguyễn Ngọc Dũng cho rằng D2C không chỉ là thêm một kênh bán hàng mà là con đường để doanh nghiệp nội thất Việt Nam chuyển mình. Việt Nam hiện sở hữu hệ sinh thái vật liệu khá hoàn chỉnh, từ gỗ, đá, ván sàn, cửa cho đến thiết bị điện, vải và đệm mút.
Đây là nền tảng thuận lợi để chuyển từ xuất khẩu từng sản phẩm riêng lẻ sang cung cấp giải pháp không gian tích hợp, kết hợp nội thất, vật liệu và dịch vụ lắp đặt theo mô hình D2C cho các dự án.
Khi áp dụng D2C, doanh nghiệp có thể vượt qua vai trò gia công thuần túy để làm việc trực tiếp với nhà thầu xây dựng, chủ đầu tư nhỏ hoặc người tiêu dùng tại thị trường nước ngoài thông qua nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới. Bước đi khởi đầu có thể là triển khai thử nghiệm một đến hai sản phẩm chủ lực dạng module, tối ưu thiết kế để thuận tiện vận chuyển và đặt mục tiêu rút ngắn thời gian giao hàng nhằm đáp ứng kỳ vọng của khách quốc tế.
Dẫu vậy, con đường này không trải hoa hồng. D2C đòi hỏi khoản đầu tư ban đầu lớn cho hạ tầng số, cho thiết kế trải nghiệm người dùng và cho các công nghệ mô phỏng không gian như 3D hay thực tế tăng cường nhằm thay thế trải nghiệm tại showroom truyền thống. Bài toán logistics cũng đặc biệt nan giải với sản phẩm nội thất vốn cồng kềnh. Chi phí giao hàng tận nơi và lắp đặt có thể chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng giá trị đơn hàng.
Không còn đại lý làm cánh tay nối dài, doanh nghiệp phải tự mình đảm đương toàn bộ hoạt động marketing, chăm sóc khách hàng và dịch vụ hậu mãi. Điều đó đồng nghĩa với áp lực lớn hơn, nhưng cũng mở ra cơ hội kiểm soát toàn bộ hành trình khách hàng. Trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt, ai nắm được người tiêu dùng, người đó nắm lợi thế. Và với ngành nội thất Việt Nam, D2C đang dần trở thành phép thử bản lĩnh trong cuộc đua toàn cầu.
Số hóa để giữ lợi thế cạnh tranh dài hạn
Muốn giữ lợi thế trên thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp nội thất không thể chỉ dừng ở việc thay đổi kênh bán hàng. Điều cốt lõi nằm ở chiều sâu chuyển đổi số. Trong bối cảnh mô hình D2C đã bùng nổ tại nhiều thị trường dẫn dắt, con đường số hóa không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm mà trở thành cơ hội để doanh nghiệp Việt tái cấu trúc toàn diện cách tiếp cận khách hàng và vận hành chuỗi giá trị.
Thực tế cho thấy, khi thị trường xuất khẩu biến động mạnh, năng lực thích ứng dựa trên nền tảng số quyết định tốc độ phản ứng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, bài toán không hề đơn giản. Hơn 60 phần trăm doanh nghiệp trong nước vẫn gặp khó khăn trong chuyển đổi số, chủ yếu do thiếu hụt kỹ năng và nguồn lực triển khai. Khoảng cách giữa khát vọng đi nhanh và khả năng đi vững đang tạo ra áp lực không nhỏ.
Ts. Đặng Phạm Thiên Duy, chuyên gia đổi mới sáng tạo trong kinh doanh tại RMIT University, nhận định chuyển đổi số đã trở thành ưu tiên hàng đầu, đặc biệt với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Song trên thực tế, nhiều đơn vị vẫn loay hoay giữa yêu cầu phải tăng tốc và nỗi lo về chi phí đầu tư, nhân sự công nghệ cũng như khả năng quản trị rủi ro.
Một nghịch lý dễ nhận thấy là trong quá trình chạy theo công nghệ, không ít doanh nghiệp lại bỏ quên mục tiêu căn bản là tối ưu doanh thu và kiểm soát chi phí. Công nghệ chỉ là công cụ. Nếu con người và quy trình không thay đổi tương ứng, các dự án số hóa dễ rơi vào tình trạng hình thức. Nhiều thất bại xuất phát không phải vì nền tảng công nghệ yếu kém mà vì tổ chức chưa sẵn sàng thay đổi tư duy vận hành.
Để đi xa trên chuỗi giá trị toàn cầu bằng con đường số hóa, doanh nghiệp Việt cần xác định rõ câu hỏi chiến lược: khách hàng quốc tế và đối tác nhập khẩu thực sự cần điều gì. Từ đó, họ mới có thể xây dựng năng lực số phù hợp thay vì đầu tư dàn trải. Số hóa không phải là mua thêm phần mềm, mà là thiết kế lại cách tạo ra giá trị.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, dư địa để thử sai rất hạn chế. Trong khi đó, bản chất của chuyển đổi số lại đòi hỏi tinh thần thử nghiệm và chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Theo khuyến nghị của Ts. Đặng Phạm Thiên Duy, điều doanh nghiệp cần lúc này là sự đồng hành của cả hệ sinh thái chuyển đổi số, từ các công ty công nghệ, cơ quan quản lý, hiệp hội ngành nghề cho đến trường đại học và viện nghiên cứu.
Ở một góc nhìn khác, chuyên gia Dương Trường Phúc thuộc Vietnam National University Ho Chi Minh City cho rằng các nền tảng số đang mở ra khả năng tiếp cận thị trường rộng lớn hơn với chi phí thấp hơn cho doanh nghiệp Việt. Điều này góp phần thu hẹp khoảng cách về quy mô so với các tập đoàn lớn, tạo cơ hội để doanh nghiệp nhỏ tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, nền tảng số cũng đồng nghĩa với cạnh tranh gay gắt hơn và sự phụ thuộc nhất định vào các hệ sinh thái xuyên quốc gia. Khi rào cản gia nhập thị trường giảm xuống, áp lực đổi mới và nâng cao năng lực quản trị lại tăng lên. Trong không gian số, lợi thế không đến từ quy mô tài sản hữu hình mà đến từ tốc độ học hỏi và khả năng tích hợp công nghệ hiệu quả.
Theo ông Phúc, những doanh nghiệp học nhanh, điều chỉnh linh hoạt và khai thác tốt công nghệ sẽ mở rộng lợi thế cạnh tranh. Ngược lại, các đơn vị chuyển đổi chỉ để tạo hình ảnh mà không thay đổi thực chất rất dễ bị loại khỏi chuỗi giá trị. Giữ được vị thế dài hạn vì thế không nằm ở việc chạy theo xu hướng, mà ở khả năng xây dựng nền tảng số bền vững và phù hợp với chiến lược phát triển của chính mình.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn

