Giá cao su thế giới
Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) ghi nhận diễn biến không đồng nhất giữa các kỳ hạn. Hợp đồng tháng 5/2026 giảm 4,60 yên/kg, tương ứng 1,20%, xuống còn 376,40 yên/kg; trong khi hợp đồng tháng 6 gần như đi ngang, giảm nhẹ 0,10 yên/kg.
Trên sàn SHFE (Thượng Hải), giá cao su tự nhiên có xu hướng tăng nhẹ. Hợp đồng kỳ hạn tháng 5/2026 tăng 45 nhân dân tệ/tấn lên mức 16.670 nhân dân tệ/tấn, trong khi hợp đồng tháng 6 tăng 95 nhân dân tệ/tấn, đạt 16.760 nhân dân tệ/tấn.
Tại sàn SICOM Singapore, giá cao su kỳ hạn tháng 5 giảm nhẹ 0,2% xuống còn 202,6 cent Mỹ/kg, cho thấy xu hướng điều chỉnh vẫn hiện hữu trên một số thị trường.
Giá cao su Nhật Bản tiếp tục chịu áp lực giảm trong phiên thứ 5 liên tiếp do ảnh hưởng từ giá dầu thô suy yếu và thị trường vật chất kém tích cực. Tuy nhiên, đà giảm được kìm hãm nhờ sự phục hồi của thị trường chứng khoán Nhật Bản và kỳ vọng thiếu hụt nguồn cung trong thời gian tới.
Trên Sàn Osaka, hợp đồng cao su giao tháng 9/2026 giảm nhẹ xuống còn 390,1 yên/kg. Trong khi đó, tại Trung Quốc, hợp đồng cao su giao tháng 9 trên SHFE tăng nhẹ, cùng với đó là đà tăng mạnh của cao su butadiene - một nguyên liệu liên quan.
Tại Thái Lan, giá cao su tấm xông khói tiêu chuẩn (RSS3) và cao su khối đồng loạt giảm, phản ánh áp lực từ thị trường xuất khẩu. Diễn biến này chịu ảnh hưởng một phần từ giá dầu giảm, khi cao su tự nhiên phải cạnh tranh với cao su tổng hợp có nguồn gốc từ dầu mỏ.
Dù vậy, yếu tố nguồn cung đang trở thành điểm hỗ trợ đáng chú ý. Thời tiết nắng nóng tại Thái Lan làm gián đoạn hoạt động khai thác mủ, trong khi tại Việt Nam và một số khu vực của Trung Quốc, độ ẩm đất thấp cũng ảnh hưởng đến sản lượng. Điều này làm gia tăng lo ngại về khả năng thiếu hụt nguồn cung trong thời gian tới.
Giá cao su trong nước
Trái với diễn biến quốc tế, giá cao su trong nước hôm nay tiếp tục duy trì trạng thái đi ngang, phản ánh sự ổn định của lực cầu từ các doanh nghiệp thu mua.
Tại Công ty Cao su Bà Rịa, giá thu mua mủ nước được giữ ở mức 420 đồng/độ TSC/kg đối với loại có độ TSC từ 25 đến dưới 30. Giá mủ đông DRC dao động quanh 14.600 đồng/kg, trong khi mủ nguyên liệu ở mức 18.100 đồng/kg.
Công ty Phú Riềng duy trì giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC và mủ nước ở mức 420 đồng/TSC. Tại Công ty MangYang, giá mủ nước dao động trong khoảng 458 – 463 đồng/TSC tùy loại, còn mủ đông tạp ở mức 404 – 459 đồng/DRC.
Trong khi đó, Công ty Bình Long giữ giá thu mua mủ nước tại nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg, tại đội sản xuất là 422 đồng/TSC/kg, còn giá mủ tạp (DRC 60%) ở mức 14.000 đồng/kg.
Nhìn chung, dù chịu tác động gián tiếp từ xu hướng giảm của thị trường thế giới, giá cao su trong nước vẫn thể hiện sự ổn định nhờ nhu cầu thu mua duy trì đều. Trong ngắn hạn, thị trường được dự báo sẽ tiếp tục dao động trong biên độ hẹp khi chờ đợi các tín hiệu rõ ràng hơn từ nhu cầu tiêu thụ toàn cầu.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
