Quy định hoàn thuế giá trị gia tăng của người nộp thuế như thế nào?

Cơ quan thuế căn cứ hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế và thông tin về người nộp thuế do cơ quan thuế quản lý tại cơ sở dữ liệu hoàn thuế giá trị gia tăng để kiểm tra đối tượng và trường hợp được hoàn thuế.

Đối với hồ sơ hoàn thuế thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau

Cơ quan thuế căn cứ hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế và thông tin về người nộp thuế do cơ quan thuế quản lý tại cơ sở dữ liệu hoàn thuế giá trị gia tăng để kiểm tra đối tượng và trường hợp được hoàn thuế.

Trường hợp hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế không thuộc đối tượng và trường hợp hoàn thuế theo quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Quản lý thuế, trong thời hạn chậm nhất không quá 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ, cơ quan thuế ban hành Thông báo về việc không được hoàn thuế (mẫu số 02/HT-TB ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC) gửi cho người nộp thuế. Trường hợp người nộp thuế thực hiện hoàn thuế điện tử, Thông báo được gửi qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế.

Quy định hoàn thuế giá trị gia tăng của người nộp thuế như thế nào
Quy định hoàn thuế giá trị gia tăng của người nộp thuế. (Ảnh minh họa)

Trường hợp hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế thuộc đối tượng và trường hợp được hoàn thuế, cơ quan thuế thực hiện đối chiếu số tiền thuế giá trị gia tăng đề nghị hoàn tại hồ sơ hoàn thuế với hồ sơ khai thuế của người nộp thuế. Số tiền thuế giá trị gia tăng được hoàn phải đảm bảo đã được khai thuế theo đúng quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành; đảm bảo Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế quy định tại Khoản 6, Khoản 7 Điều 1 Luật thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 ngày 19/6/2013 (sau đây gọi là Luật thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13) và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trường hợp chưa đủ thông tin để xác định hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế thuộc đối tượng và trường hợp được hoàn thuế, cơ quan thuế lập và gửi Thông báo giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu (mẫu số 01/KTTT ban hành kèm theo Thông tư 156/2013/TT-BTC) theo quy định tại Khoản 2 Điều 60 Thông tư số 156/2013/TT-BTC gửi người nộp thuế trong thời hạn chậm nhất không quá 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thuế tiếp nhận hồ sơ đề nghị hoàn thuế của người nộp thuế. Trường hợp người nộp thuế thực hiện hoàn thuế điện tử, Thông báo được gửi qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế. Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thuế có Thông báo, người nộp thuế có trách nhiệm gửi các giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu theo thông báo của cơ quan thuế. Quá thời hạn nêu trên, cơ quan thuế chuyển hồ sơ hoàn thuế sang diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau.

- Trường hợp thông tin liên quan đến xác định số thuế giá trị gia tăng được hoàn thuộc trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước đã có quy chế trao đổi thông tin và phối hợp công tác với cơ quan thuế thì cơ quan thuế không được yêu cầu người nộp thuế giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu.

- Trường hợp người nộp thuế đã giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng hoặc quá thời hạn yêu cầu của cơ quan thuế nhưng không giải trình, bổ sung hồ sơ hoàn thuế theo quy định tại Khoản 2 Điều 58 Thông tư số 156/2013/TT-BTC: Thủ trưởng cơ quan thuế chịu trách nhiệm phê duyệt thay đổi phân loại hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau sang thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau; đồng thời gửi Thông báo về việc chuyển hồ sơ sang diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau (mẫu số 01/HT-TB ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC) cho người nộp thuế biết trong thời hạn 06 (sáu) ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 58 Thông tư số 156/2013/TT-BTC.

Khoảng thời gian kể từ ngày cơ quan thuế phát hành thông báo đề nghị giải trình, bổ sung đến ngày cơ quan thuế nhận được văn bản giải trình, bổ sung của người nộp thuế không tính trong thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế của cơ quan thuế

Đối với hồ sơ hoàn thuế thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau

Cơ quan thuế thực hiện kiểm tra, thanh tra tại trụ sở của người nộp thuế theo quy định tại các Điều 78, Điều 79, Điều 80 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 và các văn bản hướng dẫn thi hành, theo quy trình kiểm tra thuế, quy trình thanh tra của ngành thuế. Căn cứ kết quả kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cơ quan thuế xác định số thuế được hoàn của người nộp thuế. Số tiền thuế giá trị gia tăng được hoàn phải đảm bảo đã được khai thuế theo đúng quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành; đảm bảo Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế quy định tại Khoản 6, Khoản 7 Điều 1 Luật thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trong quá trình thực hiện kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp theo quy định tại Điều 7, Điều 8 văn bản hợp nhất cỉa Thông tư số 99/2016/TT-BTC và Thông tư số 31/2017/TT-BTC để có căn cứ xác định số tiền thuế giá trị gia tăng đủ Điều kiện hoàn của người nộp thuế.

Trong quá trình giải quyết hoàn thuế mà cơ quan thuế qua công tác kiểm tra, thanh tra thuế phát hiện người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật và đã chuyển hồ sơ cho cơ quan công an Điều tra hoặc người nộp thuế bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu giữ sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ liên quan đến số thuế đề nghị hoàn thì cơ quan thuế phải thông báo cho người nộp thuế về việc hồ sơ chưa đủ Điều kiện hoàn thuế. Cơ quan thuế thực hiện giải quyết hoàn thuế khi có kết quả hoặc ý kiến của cơ quan công an hoặc của cơ quan có thẩm quyền hoặc khi có đủ hồ sơ theo quy định.

Tin liên quan
Tin khác
Tín dụng bán lẻ và sức bật của thị trường nội địa
Tín dụng bán lẻ và sức bật của thị trường nội địa

Tín dụng bán lẻ đang mở rộng dư địa thúc đẩy tiêu dùng, hỗ trợ hộ gia đình và tạo đầu ra cho doanh nghiệp trong nước. Nhưng để dòng vốn thực sự trở thành động lực tăng trưởng, ngân hàng cần cân bằng khả năng tiếp cận vốn, trả nợ và chất lượng tài sản.

Thanh toán số và bài toán bảo vệ khách hàng
Thanh toán số và bài toán bảo vệ khách hàng

Thanh toán số đang mở rộng nhanh, từ chuyển tiền, quét mã QR đến thanh toán chạm và dịch vụ xuyên biên giới. Tuy nhiên, cùng với tốc độ tăng trưởng là áp lực bảo vệ tài sản, dữ liệu cá nhân và quyền lợi khách hàng, đòi hỏi ngân hàng chuyển từ kiểm soát giao dịch sang quản trị rủi ro toàn diện.

“Hàng tồn kho” – thêm một loại tài sản bảo đảm
“Hàng tồn kho” – thêm một loại tài sản bảo đảm

Hàng tồn kho có thể trở thành tài sản bảo đảm giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng mà không phụ thuộc quá nhiều vào bất động sản thế chấp. Tuy nhiên, khả năng vay vốn đến đâu còn phụ thuộc vào giá trị thực, sức tiêu thụ và khả năng kiểm soát hàng hóa của ngân hàng.

Cuộc đua vốn điều lệ vượt 100 nghìn tỷ đồng
Cuộc đua vốn điều lệ vượt 100 nghìn tỷ đồng

Cuộc đua vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng đang định hình lại tương quan giữa các ngân hàng Việt Nam. Đằng sau những kế hoạch phát hành hàng chục nghìn tỷ đồng là yêu cầu tăng năng lực tín dụng, củng cố bộ đệm an toàn vốn và nâng sức cạnh tranh trong chu kỳ tăng trưởng mới.

VN-Index kiểm định vùng 1.730 điểm, thị trường chờ tín hiệu phục hồi
VN-Index kiểm định vùng 1.730 điểm, thị trường chờ tín hiệu phục hồi

Sau tuần giao dịch rung lắc, VN-Index lùi về kiểm định vùng hỗ trợ 1.730 điểm trong bối cảnh áp lực bán tại nhóm vốn hóa lớn và giao dịch bán ròng của khối ngoại gia tăng. Các tín hiệu kỹ thuật cho thấy khả năng xuất hiện nhịp hồi phục, song diễn biến phân hóa của dòng tiền vẫn là yếu tố cần theo dõi trong tuần 12–16/10.

Nhịp bơm – hút tiền và sức ép lãi suất
Nhịp bơm – hút tiền và sức ép lãi suất

Nhịp bơm – hút tiền trên thị trường mở đang phản ánh những thay đổi nhanh của thanh khoản ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, đặt ra yêu cầu cân đối nguồn vốn, kiểm soát chi phí và duy trì ổn định tiền tệ.

Chênh lệch giá vàng và giới hạn của cơ chế điều tiết
Chênh lệch giá vàng và giới hạn của cơ chế điều tiết

Chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới không chỉ phản ánh cung cầu, mà còn cho thấy những giới hạn của cơ chế điều tiết thị trường. Khi giá vàng biến động mạnh, bài toán đặt ra là cân bằng nguồn cung, minh bạch hóa thị trường và bảo vệ nhà đầu tư.

Lãi suất liên ngân hàng trước áp lực cân đối vốn
Lãi suất liên ngân hàng trước áp lực cân đối vốn

Lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh đầu tháng 10, phản ánh bài toán cân đối vốn ngày càng phức tạp khi tín dụng tăng nhanh, chi phí huy động neo cao và nhu cầu vốn cuối năm gia tăng. Áp lực không chỉ nằm ở thanh khoản ngắn hạn mà còn ở cấu trúc nguồn vốn của ngân hàng.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc