Nhu cầu tiêu dùng dịp Tết đẩy chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 tăng nhẹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1 tăng nhẹ 0,05% so với tháng trước chủ yếu do giá thịt lợn tăng do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ tăng cao, giá ăn uống ngoài gia đình, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng do nhu cầu sơn sửa nhà cửa đón năm mới của người dân tăng.

CPI tăng do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết tăng cao

Theo số liệu công bố ngày 6/2 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Một tăng nhẹ 0,05% so với tháng trước. CPI tháng Một tăng 2,53% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tháng 01/2026 tăng 3,19%.

Nguyên nhân chủ yếu do giá thịt lợn tăng do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ tăng cao, giá ăn uống ngoài gia đình, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng do nhu cầu sơn sửa nhà cửa đón năm mới của người dân tăng.

Trong mức tăng 0,05% của CPI tháng Một so với tháng trước, 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.

Chín nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,70% (tác động làm tăng CPI chung 0,16 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,60%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,57%; giá dịch vụ khác liên quan đến nhà ở tăng 0,59% do nhu cầu sửa sang nhà cửa cuối năm tăng; giá gas tăng 4,29% do giá gas thế giới tăng; giá điện sinh hoạt tăng 0,33%; nước sinh hoạt tăng 0,27%; giá dịch vụ về điện sinh hoạt tăng 0,33%; giá thuê nhà tăng 0,29%. Ở chiều ngược lại, giá dầu hỏa giảm 3,85% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá trong tháng.

 Nhu cầu tiêu dùng dịp Tết đẩy chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 tăng nhẹ

Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,58% do nhu cầu tiêu dùng và sử dụng làm quà biếu tặng tăng vào dịp Tết Nguyên đán khiến giá rượu bia tăng 0,45%; thuốc hút tăng 0,60%; đồ uống không cồn tăng 0,89%.

Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,41%, chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng: Nhóm đồ trang sức tăng 2,55%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,9%; dịch vụ chăm sóc cá nhân và vật dụng, dịch vụ về cưới hỏi cùng tăng 0,56%; vật dụng thờ cúng tăng 0,43%; bảo hiểm y tế tăng 0,09%.

Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,26% do nhu cầu mua sắm tăng trong mùa cưới và dịp Tết Nguyên đán. Trong đó, giá nồi điện tăng 0,78%; bàn là điện tăng 0,74%; máy hút bụi tăng 0,59%; bình nước nóng nhà tắm tăng 0,57% do nhu cầu sử dụng tăng vào mùa lạnh; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,46%; hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,30%; thiết bị gia đình lớn có động cơ tăng 0,28%; đèn điện thắp sáng tăng 0,27%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,25%. Giá dịch vụ trong gia đình tăng 1,43% do nhu cầu thuê người phục vụ dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc gia đình tăng vào dịp trước Tết; giá sửa chữa thiết bị gia đình tăng 0,22% do chi phí nhân công và thay thế linh kiện tăng.

Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,25% do chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu cùng với nhu cầu mua sắm quần áo và giày dép tăng trong dịp Tết Nguyên đán. Trong đó, giá vải các loại tăng 0,58% so với tháng trước; mũ nón tăng 0,51%; giày dép tăng 0,38%; quần áo may sẵn tăng 0,18%; may mặc khác tăng 0,23%; dịch vụ may mặc tăng 0,71%; dịch vụ giày dép tăng 0,01%.

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,20% (tác động làm CPI chung tăng 0,07 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực tăng 0,29%; nhóm thực phẩm tăng 0,09%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,44%.

Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,19%, trong đó chỉ số giá nhóm dịch vụ y tế tăng 0,23%, chủ yếu do Cần Thơ triển khai áp dụng giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo Quyết định số 277/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố. Bên cạnh đó, các bệnh cảm cúm, đường hô hấp gia tăng, nhu cầu tiêu dùng các loại thuốc về giảm đau, hạ sốt, đường hô hấp, vitamin và khoáng chất của người dân tăng. Cụ thể, giá thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,26%; nhóm thuốc vitamin và khoáng chất và thuốc chống dị ứng và các trường hợp quá mẫn cùng tăng 0,21%; thuốc tim mạch tăng 0,16%.

Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,07% chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán và chi phí dịch vụ liên quan tăng, tập trung chủ yếu ở những mặt hàng sau: Giá nhóm vật cảnh tăng 0,66%; đồ chơi tăng 0,44%; du lịch trọn gói tăng 0,05% do nhu cầu đi du lịch của người dân và chi phí dịch vụ tăng; khách sạn, nhà khách tăng 0,24%. Ở chiều ngược lại, giá sách, báo, tạp chí các loại giảm 0,22%; vật phẩm văn hóa giảm 0,21%; thiết bị dụng cụ thể thao giảm 0,08%; thiết bị văn hóa giảm 0,07%.

Nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,05%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 0,04% chủ yếu do một số trường tư thục, nghề, giáo dục đại học và sau đại học tại một số địa phương điều chỉnh học phí. Bên cạnh đó, giá sản phẩm từ giấy tăng 0,16%; bút viết các loại tăng 0,15%; riêng nhóm văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác giảm 0,04%.

Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,15%, trong đó, giá phụ kiện máy điện thoại và máy tính bảng giảm 0,72%; máy điện thoại thông minh và máy tính bảng giảm 0,46%; ti vi màu giảm 0,09% do các doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá bán, triển khai các chương trình khuyến mại, xả hàng cuối năm; dịch vụ viễn thông giảm 0,29%.

Ở chiều ngược lại, giá dịch vụ sửa chữa điện thoại tăng 0,46% do chi phí nhân công tăng; máy vi tính và phụ kiện tăng 0,19%; máy in, máy chiếu, máy quét tăng 0,18% do chi phí linh kiện và nhu cầu mua sắm tăng.

Nhóm giao thông giảm 2,32%, làm CPI chung giảm 0,23 điểm phần trăm, trong đó: Chỉ số giá xăng giảm 5,34%, chỉ số giá dầu diezen giảm 3,23%; chỉ số giá xe ô tô mới giảm 0,14%; chỉ số giá xe ô tô đã qua sử dụng giảm 0,03%.

Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng có giá tăng: Nhu cầu đi lại của người dân tăng vào dịp cuối năm làm cho giá vận tải hành khách bằng đường hàng không tăng 15,18%; vận tải hành khách bằng đường sắt tăng 4,94%; vận tải hành khách bằng xe buýt tăng 0,36%; giá phụ tùng ô tô tăng 0,26%; lốp, săm xe máy tăng 0,20%; phụ tùng khác của xe máy tăng 0,17%; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,60% do chi phí nhân công và nhu cầu tăng trong dịp cuối năm; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,44%.

Lạm phát cơ bản tháng Một tăng 0,35%

Theo Cục Thống kê, lạm phát cơ bản tháng Một tăng 0,35% so với tháng trước, tăng 3,19% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 2,53% của CPI bình quân chung. Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, năng lượng là yếu tố góp phần làm giảm CPI chung nhưng đã được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 29/01/2026, giá vàng thế giới bình quân ở mức 4.733,31 USD/ounce, tăng 8,65% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do dòng vốn đầu tư vào vàng gia tăng, cùng với hoạt động mua ròng liên tục của các Ngân hàng Trung ương.

Bên cạnh đó, đồng đô la Mỹ suy yếu trong bối cảnh kỳ vọng nới lỏng chính sách tiền tệ cùng với nhu cầu nắm giữ các tài sản thực của nhà đầu tư tăng lên trước những căng thẳng địa chính trị và bất ổn toàn cầu, qua đó tiếp tục củng cố vai trò trú ẩn an toàn của vàng làm giá vàng tăng mạnh.

Trong nước, giá vàng bám sát xu hướng thế giới, đồng thời nhu cầu tích trữ và đầu tư tăng lên trong bối cảnh các kênh đầu tư thay thế chưa ổn định, giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao. Chỉ số giá vàng tháng Một tăng 5,02% so với tháng trước; tăng 77,1% so với cùng kỳ năm trước.

Tin khác
Doanh nghiệp tự quyết giá xăng dầu: Công cụ nào giám sát, quản lý giá?
Doanh nghiệp tự quyết giá xăng dầu: Công cụ nào giám sát, quản lý giá?

Doanh nghiệp khi định giá xăng, dầu phải kê khai công thức tính, các yếu tố cấu thành và giải trình các biến động chi phí trên Hệ thống cơ sở dữ liệu giá do Bộ Công Thương xây dựng và quản lý thống nhất trên toàn quốc.

Giá kim loại hôm nay 10/10: Vàng bật tăng, bạc phục hồi, quặng sắt chạm đáy 18 tháng
Giá kim loại hôm nay 10/10: Vàng bật tăng, bạc phục hồi, quặng sắt chạm đáy 18 tháng

Giá kim loại hôm nay 10/10 ghi nhận diễn biến trái chiều. Giá vàng miếng trong nước tăng mạnh 1,8 triệu đồng/lượng, vàng thế giới lên mức cao nhất trong một tuần. Giá bạc phục hồi 1,54% lên 59,97 USD/ounce, trong khi quặng sắt Trung Quốc vẫn chịu sức ép từ lợi nhuận ngành thép suy yếu và nhu cầu nguyên liệu giảm.

Giá nông sản hôm nay 10/10: Tiêu đi ngang, cà phê rơi đáy 3 tháng
Giá nông sản hôm nay 10/10: Tiêu đi ngang, cà phê rơi đáy 3 tháng

Giá nông sản hôm nay 10/10 ghi nhận diễn biến trái chiều. Giá hồ tiêu trong nước đi ngang ở mức 135.500-139.000 đồng/kg sau phiên giảm mạnh, trong khi cà phê Tây Nguyên tiếp tục mất 1.000 đồng/kg, xuống 91.200-92.000 đồng/kg - mức thấp nhất kể từ đầu tháng 7.

Giá gas hôm nay 10/10: Đi ngang sau đợt tăng mạnh đầu tháng 10
Giá gas hôm nay 10/10: Đi ngang sau đợt tăng mạnh đầu tháng 10

Giá gas hôm nay 10/10 tiếp tục đi ngang sau đợt điều chỉnh tăng mạnh đầu tháng 10. Giá bình 12kg tại các khu vực dao động 580.000 - 647.352 đồng/bình, trong đó Hải Phòng cao nhất và Cần Thơ thấp nhất, chênh lệch 67.352 đồng/bình.

Giá cao su hôm nay 10/10: Các sàn châu Á đồng loạt tăng
Giá cao su hôm nay 10/10: Các sàn châu Á đồng loạt tăng

Giá cao su hôm nay 10/10 ghi nhận xu hướng tăng tại nhiều thị trường châu Á sau khi Trung Quốc mở cửa trở lại sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh. Giá cao su kỳ hạn tháng 11 tại Thượng Hải tăng 1,85%, trong khi các hợp đồng tại Nhật Bản, Singapore và giá chào xuất khẩu của Thái Lan cũng đi lên. Trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục ổn định.

Giá heo hơi hôm nay 10/10: Chạm đáy 51.000 đồng/kg
Giá heo hơi hôm nay 10/10: Chạm đáy 51.000 đồng/kg

Giá heo hơi hôm nay 10/10 tiếp tục giảm tại nhiều địa phương, đưa mặt bằng chung trên cả nước xuống 51.000 - 54.000 đồng/kg. Đáng chú ý, Nghệ An và Hà Tĩnh cùng giảm còn 51.000 đồng/kg, thấp nhất cả nước, trong khi miền Bắc không còn địa phương nào giữ mốc 55.000 đồng/kg.

Giá sầu riêng hôm nay 10/10: Sầu Thái giảm 5.000 đồng/kg
Giá sầu riêng hôm nay 10/10: Sầu Thái giảm 5.000 đồng/kg

Giá sầu riêng hôm nay 10/10 ghi nhận xu hướng giảm tại Đồng bằng sông Cửu Long, Đắk Lắk và Lâm Đồng, với mức điều chỉnh từ 2.000 - 5.000 đồng/kg. Đáng chú ý, sầu Thái loại A cơm chuẩn tại Đắk Lắk giảm 5.000 đồng/kg, xuống còn 90.000 - 95.000 đồng/kg.

Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 10/10: USD tăng, EUR hướng tới tuần giảm thứ năm
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 10/10: USD tăng, EUR hướng tới tuần giảm thứ năm

Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 10/10 ghi nhận đồng USD tăng nhẹ trên thị trường quốc tế, trong khi đồng EUR hướng tới tuần giảm thứ năm liên tiếp do lo ngại về tình hình tài chính công tại Pháp và triển vọng kinh tế khu vực. Trong nước, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng, xuống còn 25.629 đồng/USD.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc