Giá cà phê trong nước đi ngang, thế giới tăng nhẹ
Giá cà phê hôm nay tại các vùng trồng trọng điểm Tây Nguyên tiếp tục đi ngang, dao động trong khoảng 93.400–94.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đắk Nông cũ thuộc Lâm Đồng, giá thu mua Robusta giữ mức cao nhất 94.000 đồng/kg. Đây cũng là mức giá ghi nhận tại Đắk Lắk và Gia Lai. Trong khi đó, cà phê tại Lâm Đồng được thu mua ở mức 93.499 đồng/kg, không thay đổi so với phiên trước.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê tăng nhẹ. Cà phê Robusta London dao động trong khoảng 3.431–3.561 USD/tấn. Hợp đồng Robusta kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 59 USD/tấn, tương đương 1,7%, lên 3.528 USD/tấn. Hợp đồng tháng 1/2027 tăng 64 USD/tấn, tương đương 1,86%, lên 3.512 USD/tấn.
Tại sàn New York, cà phê Arabica kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 3,8 US cent/pound, tương đương 1,35%, lên 284,3 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2027 tăng 3,1 US cent/pound, tương đương 1,12%, đạt 280,9 US cent/pound.
Về hoạt động xuất khẩu, 9 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,4 triệu tấn cà phê, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, kim ngạch đạt 6,54 tỷ USD, giảm hơn 7% do giá xuất khẩu bình quân giảm gần 20%.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, riêng tháng 9, Việt Nam xuất khẩu khoảng 114.200 tấn cà phê, thu về hơn 500 triệu USD. Tính chung 9 tháng, giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 4.537 USD/tấn, giảm gần 20% so với cùng kỳ.
Giá hồ tiêu ổn định ở mức cao
Giá hồ tiêu hôm nay tại các vùng trồng trọng điểm tiếp tục ổn định, dao động từ 136.500–140.500 đồng/kg.
Tại Tây Nguyên, giá tiêu Đắk Lắk giữ ở mức 138.500 đồng/kg, trong khi Gia Lai ở mức 136.500 đồng/kg. Lâm Đồng tiếp tục có mức giá cao nhất, đạt 140.500 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu tại TP. Hồ Chí Minh ổn định ở mức 137.000 đồng/kg. Đồng Nai giữ mức 136.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá hồ tiêu cũng chưa ghi nhận biến động đáng kể. Theo dữ liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Brazil ở mức 5.800 USD/tấn. Tiêu đen Malaysia đạt 9.200 USD/tấn, đứng ở mức cao nhất trong nhóm được khảo sát, trong khi tiêu đen Indonesia ở mức 6.828 USD/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil được chào bán ở mức 5.800 USD/tấn.
Đối với hồ tiêu Việt Nam, tiêu đen loại 550 g/l được chào bán ở mức 6.075 USD/tấn, cao hơn loại 500 g/l khoảng 105 USD/tấn, hiện ở mức 5.970 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia được chào bán ở mức 9.348 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam ở mức 8.450 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục ghi nhận mức cao nhất với 12.100 USD/tấn.
Giá lúa tươi tăng, gạo nguyên liệu giảm nhẹ
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 tăng 100 đồng/kg, lên 6.200–6.300 đồng/kg. Đài Thơm 8 cũng tăng 100 đồng/kg, lên 6.200–6.300 đồng/kg. Lúa tươi OM 34 tăng 100 đồng/kg, lên 5.800–5.900 đồng/kg; IR 50404 tăng 100 đồng/kg, lên 5.900–6.000 đồng/kg. Riêng OM 5451 ổn định ở mức 6.000–6.100 đồng/kg.
Đối với gạo nguyên liệu xuất khẩu, CL 555 giảm 50 đồng/kg, còn 8.700–8.800 đồng/kg. Gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 cũng giảm 50 đồng/kg, xuống 8.700–8.750 đồng/kg.
Các loại gạo khác giữ mức giá ổn định. Gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.300–9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700–8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200–9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500–7.600 đồng/kg.
Giá các mặt hàng phụ phẩm dao động trong khoảng 7.550–9.000 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm ở mức 8.900–9.000 đồng/kg, còn cám ở mức 7.550–7.750 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất, 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000–22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg.
Gạo thơm Jasmine dao động 16.500–17.500 đồng/kg; gạo Đài thơm 15.500–16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 14.000–15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 15.000–16.000 đồng/kg. Gạo Sóc Thái ở mức 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg và gạo OM 18 ở mức 15.500–16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục đi ngang. Giá nếp 3 tháng khô ở mức 9.600–9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng dao động 7.300–7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục giữ ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 100% tấm được chào bán ở mức 371–375 USD/tấn; gạo Jasmine ở mức 515–519 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 440–445 USD/tấn.
Trong khi đó, giá gạo trên thị trường quốc tế có sự điều chỉnh tại một số nguồn cung lớn. Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm giảm 4 USD/tấn, xuống 455–459 USD/tấn. Gạo 100% tấm giảm 1 USD/tấn, còn 381–385 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm dao động 382–386 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm tăng 3 USD/tấn, lên 326–330 USD/tấn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
